CHƯƠNG I. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KTĐG KẾT QUẢ HỌC TẬP 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới Đo lường và đánh giá trong giáo dục là một bộ môn khoa học giáo dục được hình thành từ những năm cuối thế kỉ IXX và phát triển rực rỡ ở châu Âu, đặc biệt là ở Mỹ vào thế kỉ XX.I Menđêlêep có nói: “Ở đâu có sự đo lường thì ở đó bắt đầu có khoa học”.
Trong tiến trình phát triển của ngành khoa học này, phải kể đến vài dấu mốc quan trọng như: trắc nghiệm trí tuệ Simon – Binet được xây dựng bởi hai nhà tâm lí học người Pháp là Theodore Simon và Alfred Binet vào khoảng năm 1905, tiếp đến được áp dụng tại Đại học Standford ở Mỹ bởi Lewis Terman năm 1916, sau đó nó đã được cải tiến liên tục và sử dụng rộng rãi với tên gọi là Trắc nghiệm trí tuệ IQ (Intelligence Quotient). Cho đến năm 1935 việc chấm bài trắc nghiệm đã được thực hiện bằng máy của IBM, kế đến là việc thành lập hội quốc gia về đo lường trong giáo dục (National Council on Measurement in Education -NCME) vào thập niên 1950, sự ra đời của hai tổ chức trắc nghiệm tư nhân lớn nhất Hoa Kỳ là Educational Testing Services (ETS) năm 1947 và American Testing Service (ACT) năm 1959 đã hình thành một ngành công nghiệp trắc nghiệm ở Mỹ. Ở Liên xô trước đây, từ năm 1926 đến năm 1931, đã có một số nhà sư phạm ở Matxcơva, Lêningrat, Kiep thử nghiệm dùng test để thăm dò đặc điểm tâm sinh lý cá nhân và kiểm tra kiến thức của HS. Qua nhiều năm, tới năm 1963 phương pháp này mới được phục hồi để kiểm tra tri thức của HS và đã khẳng định được giá trị của nó.
Ở Nga, từ năm 2003 trên toàn Liên bang Nga lần đầu tiên tổ chức kì thi quốc gia hợp nhất tốt nghiệp phổ thông và thi tuyển sinh đại học bằng TNKQ, khoảng 60% số HS trong toàn Liên bang tham gia. Ở Nhật Bản, “Trung tâm quốc gia về tuyển sinh đại học” được thành lập từ năm 1977, hàng năm tổ chức kì thi tuyển sinh cho hầu hết các trường đại học công và tư.000 thí sinh dự thi, đề thi được soạn cho 31 môn thi cụ thể, mỗi thí sinh có thể lựa chọn 5 môn của 5 nhóm môn nào đó tùy theo quy định của từng trường đại học mà thí sinh dự định dự tuyển [5]. 6 Ở Thái Lan, từ hơn 30 năm nay kỳ thi tuyển sinh đại học được liên kết tổ chức chung cho hầu hết các trường đại học công và tư. Ở Trung Quốc, từ năm 1989 kì thi tổ nghiệp THPT được giao cho địa phương, còn kì thi tuyển sinh đại học được tổ chức chủ yếu bằng hình thức TNKQ trên cả lục địa Trung Quốc vào đầu tháng 7 hàng năm [5].
Từ khi hình thành đến nay, khoa học về đo lường trong tâm lý và giáo dục vẫn tồn tại, phát triển như là tất yếu của sự phát triển giáo dục với những cải tiến liên tục không ngừng để ngày một hoàn thiện hơn cả về lý luận và thực tiễn. Bên cạnh sự phát triển của công nghệ tính toán, các lý thuyết về đo lường trong giáo dục cũng phát triển rất nhanh bao gồm Lý thuyết Trắc nghiệm cổ điển (Classical Test theory - CTT), Lý thuyết Ứng đáp câu hỏi (Item Response Theory - IRT), trong đó điển hình là mô hình Rasch. Các lý thuyết này phát triển từ chính nhu cầu của việc đo lường trong giáo dục. Sự ra đời của các lý thuyết này đã đánh dấu những thành tựu quan trọng trong việc nâng cao độ chính xác của trắc nghiệm, là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu các phản ứng của con người trong các khoa học hành vi.
Bên cạnh đó, chúng ta có thể kể ra một số cuốn sách đã được công bố như: nhóm tác giả J.Nitko, Anthony với cuốn Educational Assessment of Students; nhóm tác giả Linda Crocker, James Aigina với cuốn Introduction to Classical and Modern Test Theory; nhóm tác giả Tom Kubiszyn ,Gary Borich với cuốn Educational Testing and Measurement Classroom Application and Practice. Nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, khoa học về đo lường và đánh giá trong giáo dục trước đây ở trong tình trạng khá lạc hậu và chậm phát triển, đến nay ngành khoa học này vẫn còn khá mới và non trẻ ở nhiều trường, đặc biệt ở bậc THPT. Trước năm 1975 ở Miền Nam có một số nhỏ được đào tạo về khoa học này từ các nước phương Tây, trong đó có giáo sư Dương Thiệu Tống, ông đã đưa test vào ngành giáo dục để thực hiện nhưng không thành công. Năm 1974, các bài trắc nghiệm chuẩn hóa được áp dụng cho tất cả các môn thi tú tài tại miền Nam, ở Miền Bắc khoa học này ít được lưu ý.
Sau những năm 1975, có một số người nghiên cứu về khoa học đo lường trong tâm lí trong đó có tác giả Trần Trọng Thủy; đến 1993, Bộ GD&ĐT mời một số chuyên gia nước ngoài vào nước ta phổ biến về khoa học này đồng thời cũng cử một số cán bộ ra nước ngoài học tập. Từ đó, 7 một số trường đại học có tổ chức các nhóm nghiên cứu áp dụng phương pháp đo lường trong giáo dục để thiết kế công cụ đánh giá, soạn thảo các phần mềm hỗ trợ, mua máy quét quang học chuyên dụng (OMR) để chấm thi. Một vài điểm mốc đáng ghi nhận là trường ĐH Đà Lạt tuyển sinh ĐH bằng phương pháp TNKQ tháng 6/1996 và đã thành công rực rỡ. Từ sau năm 1997, các hoạt động đổi mới phương pháp KTĐG trong giáo dục ở các trường đại học lắng xuống.
Cho đến kỳ thi tuyển đại học năm 2002, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức kỳ thi tuyển sinh đại học “3 chung”. Đến năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập “Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng” để cải tiến việc thi cử và đánh giá chất lượng các trường đại học; dùng phương pháp TNKQ để làm đề thi tuyển đại học cho môn Tiếng Anh năm 2005, sau đó là Vật lí, Hóa học, Sinh học năm 2006. Từ năm học 2016 - 2017, Bộ GD&ĐT sẽ tổ chức thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan với các bài thi Toán, Ngoại ngữ, Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội. Trong những năm qua, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo, triển khai một số hoạt động như: Khảo sát kết quả học tập hai môn Toán và Tiếng Việt cho học sinh lớp 5 vào năm 2001 và 2007; Khảo sát kết quả học tập hai môn Toán và Tiếng Việt của học sinh lớp 6 cũng như Toán, Tiếng Việt, Vật lý và Tiếng Anh của học sinh lớp 9 vào năm 2010; Tham gia Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) do OECD đề xuất cùng 67 nước và vùng lãnh thổ trong năm 2012.
Bên cạnh một số hoạt động khảo sát kết quả học tập của học sinh ở bậc phổ thông có sử dụng thành tựu của khoa học đo lường trong giáo dục cũng có nhiều nhà khoa học ở nước ta đã tiến hành nghiên cứu và phổ biến ngành khoa học còn mới mẻ này về cả phương diện lý luận và thực nghiệm. Về lý luận, có thể kể đến tác giả Nguyễn Phụng Hoàng chủ biên cuốn Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập, được xuất bản năm 1996. Tác giả Nghiêm Xuân Nùng biên dịch cuốn Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong giáo dục, được xuất bản năm 1995. Năm 2004, tác giả Nguyễn Công Khanh đã viết cuốn Đánh giá và đo lường trong khoa học xã hội do NXB Chính trị Quốc Gia xuất bản.
Tác giả Lâm Quang Thiệp đã viết ba cuốn sách như: cuốn Trắc nghiệm và ứng dụng năm 2008 do NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội xuất bản; cuốn Đo lường trong giáo dục – Lý thuyết và ứng dụng do NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội xuất bản năm 8 2011; cuốn Đo lường và đánh giá hoạt động học tập trong nhà trường do NXB Đại học Sư phạm xuất bản năm 2012. Các cuốn sách này đã và đang là tài liệu bổ ích, cơ sở lý luận quan trọng và đầy đủ cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh và các thầy giáo, cô giáo tiến hành nghiên cứu, thiết kế phép đo phục vụ cho công tác đánh giá KQHT của học sinh. Ngoài nghiên cứu lý luận, có thể kể đến một số nghiên cứu thực tiễn như: Cuối năm 2004, Ngân hàng Thế giới đã cho xuất bản 3 tập báo cáo nghiên cứu số 29787-VN với đề tài Nghiên cứu đánh giá kết quả học tập môn đọc hiểu Tiếng Việt và môn Toán của học sinh lớp 5 trên toàn quốc. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu trong việc thiết kế câu hỏi trắc nghiệm và đề thi trắc nghiệm như: Luận văn “Góp phần nghiên cứu xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra đánh giá môn Hoá học 12 ban KHTN trường THPT Yên Lạc II - Tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Phạm Hồng Thủy (2008); Luận văn “Nghiên cứu, xây dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ dùng để kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 12 tại trường THPT Bến Tre, Vĩnh Phúc” của tác giả Tạ Thị Thu Hiền (2005); Luận văn “Vận dụng lí thuyết khảo thí, xây dựng và sử dụng bộ công cụ kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Vật lí lớp 12” của tác giả Nguyễn Văn Tuân (2015); Bài viết “Xây dựng ngân hàng câu hỏi đánh giá kết quả học tập môn vật lí lớp 12 (học kỳ I): Vận dụng IRT và phần mềm Conquest” đăng trên Tạp chí quản lý giáo dục số 79 tháng 12 năm 2015 của tác giả Nguyễn Văn Tuân; Bài viết “Thiết kế bài kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 11 theo dạng thức câu hỏi của chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA”, đăng trên tạp chí Khoa học giáo dục số 133 tháng 10 năm 2016 của tác giả Cao Văn Giáp.
Tóm lược lại, các nghiên cứu trong và ngoài nước đều đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của việc đánh giá kết quả học tập, các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả học tập nói chung và kết quả học tập môn Toán nói riêng. Tuy nhiên, trong luận văn này tôi muốn đi sâu nghiên cứu xây dựng ma trận đề thi đánh giá kết quả học tập môn toán THPT tại tỉnh Nam Định, kết quả nghiên cứu là cơ sở cho tác giả có những khuyến nghị với các cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục tại địa phương đưa ra những giải pháp hiệu quả hơn trong công tác nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy, học bộ môn Toán nói riêng.