chương 1-2. 4 CẨM NANG VIẾT KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN & LUẬN ÁN of research” hay “research methodology” hay còn được viết gọn bằng một chữ “methodology”. Trước hết, chúng ta cần phân biệt hai phương diện của nghiên cứu, đó là, nội dung và phương pháp. Nội dung là những gì chúng ta sẽ phải trình bày cho độc giả trí thức.
Nó là trọng tâm hay chủ đề chính của công việc nghiên cứu. Phương pháp là cách thức chúng ta giải quyết chủ đề trọng tâm đó. Giữa hai cái, nội dung thuộc về phần chủ não và quan trọng, vì đó là những gì chúng ta sẽ đóng góp kiến thức cho học giới. Phương pháp chỉ là công cụ nên tầm quan trọng của nó chỉ thuộc cấp độ hai, vì nó cũng cần thiết cho việc hỗ trợ nhà nghiên cứu hoàn thành công việc nghiên cứu đúng thời hạn, đạt tiêu chuẩn.
Phương pháp phải được lựa chọn ngay sau khi và phải thích hợp với bản chất của nội dung. Phương pháp bao giờ cũng là phương pháp của một công việc hay cho một vấn đề nào đó. Do vậy, phương pháp sử dụng cho lãnh vực này không thể ứng dụng cho lãnh vực khác. Chẳng hạn như, phương pháp của vật lý, loại phương pháp thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, không thể áp dụng cho lãnh vực thuộc khoa học xã hội, như kinh tế học, bộ môn cần dựa vào sự quan sát số lớn các sự kiện khác nhau hoặc thống kê v.
Như vậy, tiêu chí cho sự toàn hảo về một phương pháp là nhằm đáp ứng các yêu cầu của nội dung. Trong một mức độ nào đó, phương pháp chọn lựa thích hợp sẽ có thể kéo theo chất lượng và giá trị của tác phẩm nghiên cứu, và TỔNG LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU 5 ngược lại. Chính vì lý do này, nhà nghiên cứu không chỉ lưu ý về những gì được nghiên cứu mà còn về phương pháp hay cách thức giải quyết chúng. Vì thế, tìm hiểu về phương pháp nghiên cứu trở nên cần thiết đối với nhà nghiên cứu.
Trở lại vấn đề, thuật ngữ “methodology” có nghĩa là khoa học phương pháp (the science of method) hay học thuyết nghiên cứu (the theory of research) hay phương pháp nghiên cứu có hệ thống và có khoa học (scientific and systematic method of study). Phương pháp luận nghiên cứu là sự nghiên cứu đặc biệt về các phương pháp được áp dụng trong nghiên cứu. Mục đích của phương pháp luận nghiên cứu một mặt là nhằm nhận dạng các đặc điểm chung và riêng của phương pháp nghiên cứu và mặt khác nhằm xác định phương cách các đặc điểm của phương pháp khác nhau tùy theo bản chất của các ngành, lãnh vực mà chúng trực thuộc. Nền tảng của sự nghiên cứu, tìm tòi này nằm trong các trường hợp cụ thể của các nghiên cứu đã được thực hiện.
Các nghiên cứu đó sẽ cho chúng ta biết được các điểm mạnh cũng như điểm nhược, thành công cũng như thất bại tong việc ứng dụng các phương pháp của những người làm công tác khảo cứu. Nói tóm lại, trên căn bản, phương pháp nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta, từ việc đúc kết các kinh nghiệm xương máu của các nhà nghiên cứu trước, tránh được các thao tác dư thừa trong khi tiến hành và không vấp phải những sai suất trong khi thực hiện. 6 CẨM NANG VIẾT KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN & LUẬN ÁN II. PHÂN LOẠI NGHIÊN CỨU Dù phương pháp nghiên cứu là đa dạng và các vấn đề hay chủ đề nghiên cứu đã, đang và sẽ được thực hiện là nhiều đến độ không thể tính đếm, loại hình nghiên cứu trên bản chất là có giới hạn và có thể được phân thành ba phần chính sau đây: 1.
Nghiên Cứu Phân theo Số Người Tham Dự: gồm có — Nghiên cứu của cá nhân. — Nghiên cứu của tập thể gồm từ hai người trở lên. Nghiên Cứu Phân theo Địa Điểm Thực Hiện: gồm có: — Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. — Nghiên cứu ngoài phòng thí nghiệm.
Nghiên Cứu Phân theo Bản Chất hay Mục Đích: gồm có: — Nghiên cứu thuần túy. — Nghiên cứu ứng dụng. Trong ba phân loại trên, nghiên cứu phân theo bản chất hay mục đích là quan trọng nhất. Về mối tương quan giữa chúng, bất kỳ một công trình nghiên cứu nào cũng liên hệ đến ba phân loại trên.
Một nghiên cứu nào cũng có người thực hiện. Người thực hiện có thể một mình hay có sự cộng tác của một hay nhiều người đồng nghiệp. Kế đến, nghiên cứu đó sẽ thuộc TỔNG LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU 7 vào một trong hai loại sau đây, ứng dụng hay thuần túy. Và, nếu nó là nghiên cứu ứng dụng thì thường nó sẽ được tiến hành trong phòng thí nghiệm.
Nếu nó là nghiên cứu thuần túy thì nó có thể được tiến hành trong hoặc ngoài phòng thí nghiệm tùy theo lãnh vực nghiên cứu. Do đó, ta có thể phân loại tất cả các nghiên cứu thành hai loại hình chính, đó là, nghiên cứu thuần túy và thực dụng. a) Nghiên cứu thuần túy (pure research): Là các công trình tìm tòi và khám phá kiến thức mới cho một lãnh vực nào đó một cách không vụ lợi, không bị vẩn đục bởi các tính toán liên hệ đến các hình thái sử dụng xã hội, theo đó, các khám phá có thể được đưa vào.(5) Nói cách khác, nghiên cứu thuần túy mang tính cách bất vụ lợi, chỉ nhằm mục đích khám phá và làm cho vấn đề trở nên chân thiện mỹ mà thôi. b) Nghiên cứu ứng dụng (practical or applied research): Là công trình nghiên cứu của một cá nhân hay tập thể hay của các viện, ban, ngành, công ty kỹ nghệ v.
thực hiện với mục đích nhằm phát minh các sản phẩm mới hay cải tiến các sản phẩm đã có, để phục vụ cho các mục đích xã hội, nhất là kinh tế. Nói cách khác, nghiên cứu ứng dụng là các công trình tìm kiếm và khám phá ra những cái mới, nhắm đến mục đích phục vụ cho các nhu cầu xã hội, để gặt hái các hiệu suất kinh tế. 8 CẨM NANG VIẾT KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN & LUẬN ÁN c) Mối liện hệ giữa chúng: Các nghiên cứu thuần túy, trên thực tế, có thể liên hệ đến các nghiên cứu khoa học thuộc thực dụng hay ứng dụng. Các nghiên cứu thuần túy của ngày hôm qua trở thành các nghiên cứu ứng dụng ngày hôm nay, và rồi chúng có thể trở thành các máy móc, vật dụng hay tiến trình của ngày mai.
TIÊU CHUẨN CHUNG VÀ CHUYÊN MÔN CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU Đam mê thuần túy vẫn chưa đủ để trở thành nhà nghiên cứu giỏi. Đam mê có thể giúp bạn thâu thập được kiến thức cần thiết. Để trở thành nhà nghiên cứu giỏi, ngoài kiến thức như điều kiện cần thiết, tức ngoài đam mê, và thông thạo phương pháp làm việc, bạn còn phải hội đủ các tiêu chuẩn chung và riêng sau đây: 1. Các Tiêu Chuẩn Chung cho Việc Nghiên Cứu a) Thông thạo về lãnh vực nghiên cứu Vì nghiên cứu nhằm hướng đến kiến thức chuyên sâu về một lãnh vực quen thuộc, nó đòi hỏi nhà nghiên cứu cần phải có các kiến thức nền tảng về lãnh vực đó.
Chỉ khi nào bạn có được các kiến thức nền tảng về một lãnh vực nào đó, bạn mới có thể dễ dàng tiến xa và sâu vào lãnh vực, phát hiện ra những thông tin mới và đóng góp chúng cho học giới. Bằng không, bạn chỉ mãi là người thừa kế hay thừa hưởng thành quả nghiên cứu của các học giả khác mà thôi. Xem Burlingame (1947): ch. TỔNG LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU 9 b) Động cơ phát minh Nhà nghiên cứu phải có thái độ đam mê trong khám phá những thông tin chưa được biết đến.
Đam mê khám phá là thái độ, là niềm khao khát nâng cao kiến thức của bản thân. Càng có nhiều đam mê, nhà nghiên cứu càng có nhiều cơ hội phát hiện và đóng góp những kiến thức mới cho một lãnh vực theo đuổi nào đó. Đức tính này cần được phát triển ngay khi bạn bắt đầu vào nghiên cứu và cần được duy trì và phát huy trong suốt thời gian bạn dấn thân vào công tác nghiên cứu. c) Khả năng tư duy Để có thể đạt được niềm khát khao của mình, nhà nghiên cứu cần phải có khả năng tư duy và phản ánh một cách logic, có hệ thống và biện chứng.
Thường con người có bản năng tư duy và phản ánh. Nhưng bản năng này chỉ được phát triển ở một mức độ nhất định trong những trường hợp tình cờ hay ngẫu nhiên mà chưa được đào luyện để trở thành một phản xạ có điều kiện. Nhà nghiên cứu phải đào luyện chính mình phản xạ phản ánh và tư duy có hệ thống về các vấn đề, nhất là vấn đề đang theo đuổi nghiên cứu. Các Tiêu Chuẩn Chuyên Môn cho Việc Nghiên Cứu a) Kiến thức về ngôn ngữ nguồn tài liệu Đây là điều kiện tiên quyết giúp bạn đi sâu vào lãnh vực chuyên ngành.
Không có kiến thức về ngôn ngữ chuyên ngành, dù có động cơ tốt, có khả năng tư duy 10 CẨM NANG VIẾT KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN & LUẬN ÁN bén nhạy, có kiến thức nhiều, bạn cũng khó có thể bước chân vào con đường phát hiện ra những kiến thức mới. Muốn trở thành chuyên gia về triết học Ấn Độ, điều kiện tiên quyết là bạn phải rành ngôn ngữ triết học Ấn như Sanskrit gốc (Pure Sanskrit), Sanskrit Phật giáo (Buddhist Hybrid Sanskrit) và Pli. Tương tự, muốn trở thành chuyên gia về triết học phương Tây, bạn phải rành về tiếng Hy-lạp, tiếng La-tinh, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Anh. Kiến thức chuyên môn về ngôn ngữ nguồn tài liệu gốc là chìa khóa đưa bạn đến tiếp cận văn bản gốc, tư duy về văn bản gốc và khám phá chúng.
Bằng không, bạn chỉ có thể dựa vào bản dịch hay sử dụng các tài liệu hai về chủ đề mà thôi. b) Thông thạo về ngôn ngữ báo cáo Ngôn ngữ báo cáo là ngôn ngữ bạn sử dụng viết công trình nghiên cứu của bạn. Nhà nghiên cứu cần phải thông thạo ngôn ngữ mà mình sẽ phản ánh hay phúc trình công trình nghiên cứu. Không có khả năng diễn đạt chuyên môn và lão luyện về ngôn ngữ báo cáo, nhà nghiên cứu khó có thể thành công trong việc thông tin cho độc giả những khám phá mới của mình.
Nhu cầu thông thạo về ngôn ngữ viết không có nghĩa buộc nhà nghiên cứu phải trở thành nhà văn lão luyện, mà chỉ yêu cầu nhà nghiên cứu có khả năng diễn đạt một cách chính xác, rõ ràng ý tưởng của mình. Chỉ có diễn đạt chính xác mới có thể dẫn đến sự đọc hiểu chính xác ở người đọc.