Dịch và Giải Luận Khởi Tín Đại Thừa - Như Lai tạng Duyên khởi do Thích Giác Quả biên soạn

Tôi đã phân tích tiêu đề bài viết của bạn: "Daithuakhoitin thichgiacqua". Tuy nhiên, đây có vẻ là một thuật ngữ hoặc cụm từ chưa rõ nghĩa trong tiếng Việt

Chuyên ngành

Phật học

Người đăng

Ẩn danh

2012

272
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Khởi Tín Đại Thừa và giáo nghĩa Như Lai Tạng

Luận Khởi Tín Đại Thừa do Bồ-tát Mã Minh sáng tác vào đầu thế kỷ thứ II Tây lịch. Tác phẩm này ra đời nhằm giải quyết những nghi vấn mà các chủ thuyết trước đó chưa đáp ứng trọn vẹn. Trước đó, chủ thuyết Nghiệp cảm Duyên khởi của các Luận sư A-tỳ-đàm chưa giải thích được nguồn gốc của Nghiệp. Chủ thuyết A-lại-da Duyên khởi tuy tiến bộ hơn nhưng vẫn chưa giải đáp toàn triệt mối quan hệ giữa Mê và Ngộ, giữa Tướng và Tánh, giữa Chúng sinh và Phật. Luận Khởi Tín đề xuất chủ thuyết Chân Như Duyên Khởi hay Như Lai Tạng Duyên Khởi. Như Lai Tạng chính là kho tàng chứa đựng vô lượng công đức vô lậu, còn được gọi là Nhất Tâm hay Đại thừa. Bản thân Chân Như có hai mặt: mặt Không như thật là Thể, và mặt Bất không như thật là Tướng. Giáo nghĩa này hệ thống toàn bộ tư tưởng Đại thừa về một mối, cung cấp nền tảng lý thuyết vững chắc cho hành giả trên con đường giác ngộ.

1.1. Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của Luận Khởi Tín

Vào đầu thế kỷ thứ II Tây lịch, Phật giáo Đại thừa đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhưng thiếu một hệ thống giáo nghĩa thống nhất. Các chủ thuyết Duyên khởi trước đó như Nghiệp cảm Duyên khởi và A-lại-da Duyên khởi đều có những hạn chế riêng. Nghiệp cảm Duyên khởi không giải thích được nguồn gốc sâu xa của Nghiệp. A-lại-da Duyên khởi tuy nhận thức được vai trò của thức nhưng chưa làm sáng tỏ mối liên hệ giữa mê ngộ, tánh tướng. Chính bối cảnh này thúc đẩy Bồ-tát Mã Minh biên soạn Luận Khởi Tín để hệ thống hóa giáo nghĩa Đại thừa.

1.2. Mục đích và ý nghĩa của Luận Khởi Tín trong Phật giáo

Luận Khởi Tín có hai mục đích chính. Thứ nhất là khơi dậy và củng cố đức tin chính xác vào giáo nghĩa Đại thừa, tức là nhận ra bản chất Như Lai Tạng nơi tự tâm. Thứ hai là cung cấp phương pháp tu tập thiết thực cho những hành giả chưa đạt được niềm tin hoàn hảo. Bồ-tát Mã Minh đã giới thiệu pháp niệm Phật như phương tiện bảo lưu đức tin, giúp hành giả phát nguyện sinh về cõi Phật. Tác phẩm này đóng vai trò cầu nối giữa lý thuyết và thực hành trong truyền thống Đại thừa.

II. Phân tích chủ thuyết Như Lai Tạng Duyên Khởi trong Khởi Tín

Chủ thuyết cốt lõi của Luận Khởi Tín là Như Lai Tạng Duyên Khởi, giải thích bản chất của Tâm và mối quan hệ giữa giác ngộ và vô minh. Như Lai Tạng chính là cái Tâm đang là của mỗi chúng sinh, không phải một thực thể bên ngoài. Tâm này vốn sẵn đủ ba phương diện vĩ đại: Thể đại, Tướng đại và Dụng đại. Thể đại biểu thị bản chất tuyệt đối ly ngôn tuyệt tướng. Tướng đại thể hiện qua mặt Bất không như thật, là kho tàng vô lượng công đức vô lậu. Dụng đại biểu thị khả năng sinh khởi mọi hiện tượng. Như Lai Tạng chứa đựng cả pháp tịnh lẫn pháp nhiễm. Khi pháp nhiễm khởi sinh, Như Lai Tạng đổi tên thành Thức A-lại-da, làm cơ sở cho sự phát khởi của Giác và Bất giác. Giác là sự trong sáng tự nhiên của Tâm, Bất giác là sự che lấp do vô minh. Sự tương tác giữa hai yếu tố này tạo nên toàn bộ tiến trình luân hồi và giác ngộ của chúng sinh.

2.1. Hai mặt của Chân Như Thể và Tướng

2.2. Mối quan hệ giữa Giác và Bất giác trong Như Lai Tạng

Trong Như Lai Tạng, pháp tịnh biểu thị cho Giác còn pháp nhiễm biểu thị cho Bất giác. Giác là trạng thái trong sáng tự nhiên, là bản chất vốn có của Tâm. Bất giác phát sinh do vô minh che lấp, tạo ra sự phân biệt nhị nguyên. Hai yếu tố này không đối lập tuyệt đối mà tồn tại đồng thời trong cùng một Tâm. Khi Bất giác khởi sinh, nó không làm mất đi bản chất Giác mà chỉ che lấp tạm thời. Tiến trình tu tập chính là quá trình chuyển hóa từ Bất giác sang Giác, nhận ra bản chất trong sáng vốn có của Như Lai Tạng.

III. Phương pháp tu tập và con đường từ sinh diệt hội nhập Chân Như

Luận Khởi Tín không chỉ trình bày lý thuyết mà còn cung cấp phương pháp tu tập cụ thể. Đối với hành giả chưa đạt được niềm tin hoàn hảo, Bồ-tát Mã Minh giới thiệu pháp niệm Phật như phương tiện bảo lưu đức tin. Hành giả phát tâm niệm Phật, nguyện sinh về các cõi Phật, nhằm duy trì và củng cố niềm tin vào giáo nghĩa Đại thừa. Đây là phương pháp thiết thực dành cho hàng phàm phu, những người chưa bước vào hàng Chánh định tụ. Con đường tu tập trong Khởi Tín bao gồm ba giai đoạn: phát tâm bằng sự tin, phát tâm bằng sự biết và sự làm, và phát tâm bằng sự chứng. Giai đoạn đầu là thiết lập niềm tin đúng đắn. Giai đoạn hai là thực hành tích cực dựa trên hiểu biết. Giai đoạn ba là chứng ngộ trực tiếp bản chất của Tâm. Phương pháp này giúp hành giả dần dần từ trạng thái sinh diệt hội nhập vào Chân Như, đạt đến cứu cánh giác ngộ.

3.1. Pháp niệm Phật và phát nguyện sinh về cõi Phật

3.2. Ba giai đoạn phát tâm Tin Biết và Chứng

Con đường tu tập trong Khởi Tín được hệ thống hóa qua ba giai đoạn phát tâm. Phát tâm bằng sự tin là bước đầu tiên, xây dựng nền tảng niềm tin đúng đắn vào giáo nghĩa Đại thừa. Phát tâm bằng sự biết và sự làm là giai đoạn thực hành, vận dụng hiểu biết vào đời sống hàng ngày. Phát tâm bằng sự chứng là giai đoạn cuối cùng, đạt được chứng ngộ trực tiếp bản chất của Tâm. Ba giai đoạn này liên kết chặt chẽ, tạo thành con đường tu tập toàn diện từ sơ phát tâm đến cứu cánh giác ngộ.

IV. Kết luận và ứng dụng giáo nghĩa Khởi Tín trong đời sống

Luận Khởi Tín Đại Thừa là tác phẩm có giá trị to lớn trong việc hệ thống hóa giáo nghĩa Phật giáo Đại thừa. Chủ thuyết Như Lai Tạng Duyên Khởi cung cấp cái nhìn toàn diện về bản chất của Tâm và mối quan hệ giữa chúng sinh và Phật. Giáo nghĩa này khẳng định rằng mọi chúng sinh đều sẵn có Như Lai Tạng, tức là kho tàng công đức vô lậu, và con đường giác ngộ là quá trình nhận ra bản chất vốn có ấy. Ứng dụng thực tiễn của giáo nghĩa Khởi Tín rất phong phú. Đối với người mới bước vào con đường tu tập, pháp niệm Phật là phương tiện hữu hiệu để duy trì niềm tin. Đối với hành giả tiến bộ, việc quán chiếu mối quan hệ giữa Giác và Bất giác giúp深化 hiểu biết về bản chất của Tâm. Giáo nghĩa Khởi Tín cũng có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống hàng ngày, nhắc nhở mọi người về phẩm giá giác ngộ vốn có nơi tự tâm, từ đó sống với thái độ từ bi và trí tuệ.

4.1. Giá trị của Luận Khởi Tín đối với Phật giáo Đại thừa

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong đời sống tâm linh hiện đại

Giáo nghĩa Khởi Tín có nhiều ứng dụng trong đời sống tâm linh hiện đại. Nhận thức về Như Lai Tạng giúp con người tìm thấy ý nghĩa đích thực của cuộc sống, vượt qua cảm giác bất an và lo lắng. Pháp niệm Phật cung cấp phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả để duy trì sự bình an nội tâm. Việc quán chiếu mối quan hệ giữa Giác và Bất giác giúp phát triển trí tuệ và từ bi trong các mối quan hệ xã hội. Giáo nghĩa này nhắc nhở rằng giác ngộ không phải là điều xa vời mà sẵn có ngay trong tâm mỗi người.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Dịch giải: TK. Thích Giác Quả NHÀ XUẤT BẢN THUẬN HÓA HUẾ - 2012 LỜI TỰA Luận Khởi Tín Đại Thừa do Bồ-tát Mã Minh sáng tác vào đầu thế kỷ thứ II Tây lịch. Trước luận Khởi Tín đã hiện hữu chủ thuyết Nghiệp cảm Duyên khởi do các Luận sư A-tỳ-đàm đề xướng, nhưng chủ thuyết này chưa giải thích được nguồn gốc của Nghiệp phát xuất từ đâu. Sau đó nghi vấn này đã được chủ thuyết A-lại-da Duyên khởi giải quyết. Dù vậy, giáo nghĩa Duy thức vẫn chưa giải đáp toàn triệt những nghi vấn giữa Mê và Ngộ, giữa Tướng và Tánh, giữa Chúng sinh và Phật, đây là động cơ để luận Khởi Tín ra đời. Vậy chủ thuyết luận Khởi Tín là gì? Thuyết minh gì? Chủ thuyết Khởi Tín là Chân như Duyên khởi hay Như Lai tạng Duyên khởi. Bản thân Chân như có hai mặt, đó là mặt Không như thật (Chân không) - Thể của Chân như; và mặt Bất không như thật (Diệu hữu) - Tướng của Chân như. Như Lai tạng chính là mặt Bất không như thật của Chân như, là kho tàng chứa đựng vô lượng công đức vô lậu, còn được gọi là Nhất Tâm hay Đại thừa. Mặt Thể là mặt tuyệt đối ly ngôn tuyệt tướng, không thể phô diễn; mặt Tướng là mặt tương đối nên có thể vận dụng ngôn ngữ để lý giải. Do thế, trọng tâm giáo nghĩa Khởi Tín là lý giải về Như Lai tạng, hay Nhất Tâm hoặc Đại thừa này đây. Và Như Lai tạng (Nhất Tâm, Đại thừa) chính là cái Tâm đang là của chúng ta chứ chẳng phải cái gì khác. Như Lai tạng là kho tàng tiềm ẩn vô lượng công đức vô lậu, bất sinh bất diệt (mặt tỉnh), là nguồn cội lưu xuất Nhân quả thiện thế gian và xuất thế gian. Do nương vào tự Tướng của Như Lai tạng (Nhất Tâm, Đại thừa) mà có tâm sinh diệt (tâm chúng sinh), tức Như Lai tạng của chúng sinh hiện hữu cả pháp tịnh lẫn pháp nhiễm, nên Như Lai tạng đổi tên thành Thức A-lại-da, để làm cơ sở phát khởi các pháp tịnh, pháp nhiễm; pháp tịnh là Giác, pháp nhiễm là Bất giác. Như vậy, với chủ thuyết Như Lai tạng Duyên khởi, luận Khởi Tín vừa giải đáp tận cùng uyên nguyên các nghi vấn đương thời, vừa hệ thống giáo nghĩa Đại thừa về một mối. Tựu trung, luận Khởi Tín thuyết minh hai vấn đề chính: 1. Khởi phát đức tin chính xác giáo nghĩa Đại thừa (Như Lai tạng, Nhất Tâm). Khởi phát đức tin chính xác cái Tâm đang là của chúng ta đây. Nội dung Tâm này vốn sẵn đủ Thể đại, Tướng đại và Dụng đại, đây là cái Tâm đồng nhất giữa Mê và Ngộ… giữa Chúng sinh và Phật biểu hiện khắp mười phương Pháp giới. Chính sự thật này luận Khởi Tín mới mệnh danh là Đại thừa (Cổ xe vĩ đại, cổ xe trâu trắng chúa), và do xe này chư Phật đã cưỡi, chư Bồ-tát đang cưỡi, chúng sinh sẽ cưỡi để đến cõi Vô dư Niết-bàn (Phật địa). Điểm thứ hai này mới là trọng tâm của giáo nghĩa Khởi Tín. Tuy nhiên, với tâm lý hàng phàm phu (hàng Bất định tụ) chưa thành tựu đức tin hoàn hảo (chưa viên mãn 10 địa vị cấp Tín, bước lên Sơ trụ, đứng vào hàng Chánh định tụ hay Chánh tín), họ lo sợ khó được Chánh tín nên muốn thối lui. Để cứu vớt hạng người này, Bồ-tát Mã Minh đã giới thiệu pháp tu đặc biệt mà Thế Tôn đã chỉ dạy để bảo lưu đức tin ấy, bằng cách phát tâm niệm Phật nguyện sinh về các cõi Phật. Thiết thực nhất là chuyên tâm xưng niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà để được vãng sinh về cõi Cực Lạc phương Tây; khi đã vãng sinh thì luôn được thấy đức Phật nên đức tin không bao giờ thối lui. Như thế, bất cứ hành giả nào chưa đứng vào hàng Chánh định tụ (Sơ trụ trở lên) tha thiết muốn chứng quả vị Phật-đà, cụ thể nhất là phát tâm kiên định nương vào Bổn nguyện đức Phật A-di-đà, thuần nhất chuyên niệm danh hiệu Ngài để được vãng sinh Cực Lạc, hầu hoàn thiện đức tin hoàn hảo, đủ nhân tố cưỡi xe vĩ đại (Đại thừa) thẳng tiến về Niết-bàn, viên mãn mục đích tối hậu của sự tu tập. Tóm lại, luận Khởi Tín này bút giả đã dịch-giải vào năm 1995 để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của Tăng-Ni sinh trường Trung Cấp Phật Học Thừa Thiên Huế, giờ đây hội đủ nhân duyên, bút giả bổ cứu để xuất bản, nhằm phổ biến tư tưởng Như Lai tạng Duyên khởi (Chân như Duyên khởi), hệ tư tưởng như thật giải đáp tận nguồn cội Nhân sinh và Vũ trụ quan, đến quý Tăng-Ni, Phật tử gần xa, mong chư vị đón nhận được nhiều pháp lạc. Sau cùng, khi dịch-giải một tác phẩm quan trọng và thâm sâu như bản luận này, chắc chắn có nhiều ngộ nhận, rất mong chư vị Tôn đức, Thiện hữu tri thức hoan hỷ chỉ giáo, nhằm bổ túc, hoàn thiện khi được tái bản. Chùa Hồng Đức ngày 15 – 9 – 2012 Tỳ - kheo Thích Giác Quả Khởi tín Đại thừa 9 TỔNG MỤC LUẬN KHỞI TÍN ĐẠI THỪA LỜI TỰA 5 CHƯƠNG I: NHẬN THỨC KHÁI QUÁT 10 I. Bối cảnh thành lập. Tiểu sử Luận chủ. Sơ lược nội dung. Giải thích đề luận. 19 CHƯƠNG II: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG 25 II. Dàn ý nội dung. 31 10 Khởi tín Đại thừa CHƯƠNG I NHẬN THỨC KHÁI QUÁT I. BỐI CẢNH THÀNH LẬP. Do căn cứ tên ghi ở bản Luận1, nên những tác giả của các bản sớ giải đều đồng quan điểm rằng, luận Khởi Tín do Bồ-tát Mã Minh trước tác vào thời gian cách đức Phật nhập Niết-bàn khoảng 600 năm (khoảng cuối thế kỷ thứ I và đầu thế kỷ thứ II Tây lịch). Bồ-tát Mã Minh là một trong những bậc Long Tượng của Phật giáo Ấn Độ đương thời. Đây là thời kỳ đơm hoa kết trái, muôn sắc muôn hương của Phật giáo Đại thừa. Vấn đề kiến giải của hàng phàm phu ngoại đạo luôn quanh quẩn trong lưới tà kiến là việc hiển nhiên; nhưng bấy giờ trong Phật giáo, tiêu biểu là hệ tư tưởng A-tỳ-đàm cũng rơi vào thiên chấp, khi xiển dương Nhân sinh quan (bao hàm cả Vũ trụ quan) của mình là Nghiệp 1 Bản Hán văn. Khởi tín Đại thừa 11 cảm Duyên khởi. Thiên chấp này được triển khai từ giáo nghĩa nguyên thỉ là năm uẩn và mười hai nhân duyên, tức là từ giáo nghĩa Vô ngã mà rơi vào hữu ngã. Và, vấn đề bế tắc của Chủ thuyết này là Nghiệp tích lũy ở đâu và do đâu mà hiện hữu? Bế tắc này sau đó đã được trường phái Duy thức giải đáp với giáo nghĩa A-lại-da Duyên khởi. Tuy vậy, phái Duy thức vẫn chưa đáp ứng vướng mắc tế nhị: Do đâu mà có A-lại-da? Đây là tăng thượng duyên đẩy đưa sự phát khởi giáo nghĩa Khởi Tín với Chủ thuyết Chân như Duyên khởi. Với Chủ thuyết này, Khởi Tín đã đưa Nhân sinh quan (và Vũ trụ quan) Phật giáo đến tận uyên nguyên; đồng thời, vừa phủ nhận hệ tư tưởng thiên chấp của trường phái A-tỳ-đàm, cũng vừa hệ thống hóa giáo nghĩa Đại thừa về một mối. Và, theo bản ý Luận chủ, đây là Pháp cần phải được xiển dương để phát khởi và phát triển đức tin chính xác Đại thừa nhằm hạt giống Phật được tồn tại trong cuộc đời. Tại đây, người học cần có nhận thức căn bản rằng, Duyên khởi là pháp mà đức Thế Tôn giác ngộ đêm cuối cùng tại cội Bồ-đề. Nói khác hơn, Tri kiến Phật 12 Khởi tín Đại thừa là Tri kiến về Duyên khởi. Đây là giáo nghĩa cốt lõi để các trường phái sau này (trường phái A-tỳ-đàm và các trường phái Đại thừa) triển khai lập thành giáo nghĩa và dẫn chứng biện minh cho hệ tư tưởng của mình. Một điểm trọng yếu khác, đối tượng nghe pháp Duyên khởi không ai khác hơn là con người và nội dung chủ yếu của Duyên khởi là Duyên khởi của con người. Chính thế, khi đức Phật tại thế cũng như các Luận chủ sau này, nói pháp Duyên khởi là nhằm nói cho con người, nói bởi con người, con người là một sinh thể gồm vật lý và tâm lý. Cần nắm vững nội dung Duyên khởi và đối tượng Duyên khởi thuyết minh như thế, để khi đi vào tìm hiểu tư tưởng Khởi Tín qua Chánh văn mới khỏi bị lệch hướng. Hiện tại, nguyên bản Phạn văn (Sanskrit) của luận Khởi Tín chưa được tìm thấy. Đây là cơ sở căn bản để một số học giả Phật giáo Trung Hoa và Nhật Bản lập luận rằng, tác giả Khởi Tín là người Tàu. Tuy nhiên, một số lớn các học giả khác đã lên tiếng phản đối kịch Khởi tín Đại thừa 13 liệt và kết luận rằng, những luận thuyết ấy không có bảo chứng. Dù nguyên bản chưa được phát hiện, nhưng qua hai bản dịch Trung văn của Ngài Chân Đế và Thật-xoa- nan-đà, đều ghi tác giả bản luận là Bồ-tát Mã Minh. Qua đây, chúng ta tạm ổn định ghi nhận rằng, Luận chủ là Bồ-tát Mã Minh. Hiện tại, trong Hán tạng và Việt dịch có các bản sau:  Hán dịch: Có hai bản: 1. Đại Thừa Khởi Tín luận, Ngài Chân Đế (Paramàntha Ba-la-mật-đà) dịch vào năm 553 Tây lịch, đời nhà Lương. Đại Thừa Khởi Tín luận, Ngài Thật-xoa-nan-đà (Sankshànanda – Học Hỷ) dịch vào năm 699 Tây lịch, đời nhà Đường.  Việt dịch: Có bốn bản: 1. Luận Đại Thừa Khởi Tín, Bác sĩ Lê Đình Thám dịch (?). Khởi Tín luận, Hòa thượng Trí Quang dịch, năm 1949. 14 Khởi tín Đại thừa 3. Luận Đại Thừa Khởi Tín, Cao Hữu Đính dịch, năm 1983. Khởi Tín luận, Hòa thượng Trí Quang dịch, năm 1993. TIỂU SỬ LUẬN CHỦ. Bồ-tát Mã Minh (Ásvaghosa) người nước Xá-vệ (Savatthi) thuộc Trung Ấn Độ. Ngài sinh trưởng vào thời đại Quy Sương (Kusana), cùng thời với Vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniska), vào khoảng đầu thế kỷ II Tây lịch. Ngài và Vua là đôi tri kỷ của nhau cho đến trọn đời. Mã Minh là dịch nghĩa của từ Ásvaghosa, nghĩa đen là ngựa kêu, do tích khi Ngài chào đời, các chú ngựa trong địa phương đều cất tiếng hí vang. Lại có thuyết, sự thuyết pháp của Ngài quá thần tình bởi văn khí của thơ và nhạc, đến nỗi loài ngựa cũng cảm nhận được, nên hí lên mừng rỡ. Ngài xuất thân từ Bà-la-môn giáo, là người đa tài và lĩnh vực nào cũng đều đạt đến đỉnh cao: Một thi sĩ, một nhạc sĩ; một học giả và cũng là một nhà hùng biện trứ danh. Sau khi quy hướng Phật giáo, tu tập trở thành một vị Tổ sư, Ngài còn là một trước thuật gia và một Khởi tín Đại thừa 15 triết gia lỗi lạc nữa. Chính Ngài đã đưa nền văn học Phật giáo Phạn văn (Sanskrit) lên đến tột đỉnh rực rỡ của nó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ