Lời Phật dạy: Trích lục các bài giảng trong Kinh điển Pāli - Tỳ-khưu Bodhi, Bình Anson

Chuyên ngành

Phật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách

2016

551
0
0

Phí lưu trữ

135 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Những lời Phật dạy trong Kinh điển Pāli

Những lời Phật dạy là tác phẩm trích lục các bài giảng từ Kinh điển Pāli, do Tỳ-khưu Bodhi biên soạn năm 2005 và được Bình Anson dịch sang tiếng Việt năm 2016. Phiên bản 17/02/2021 được Nhà xuất bản Tôn giáo phát hành dưới dạng sách ấn tặng. Kinh điển Pāli thuộc truyền thống Theravāda, lưu giữ những bài giảng cổ xưa nhất của Đức Phật lịch sử. Các bài kinh này bắt nguồn từ giai đoạn sớm nhất của lịch sử Phật giáo, khoảng một trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Đây là di sản chung cho tất cả truyền thống Phật giáo, phản ánh những lời dạy nguyên thủy từ Đức Thế Tôn. Cuốn sách trình bày mười chương lớn, bao quát toàn bộ giáo pháp từ kiếp nhân sinh đến các cấp độ thực chứng cao nhất.

1.1. Nguồn gốc và lịch sử hình thành Kinh điển Pāli

Kinh điển Pāli hình thành qua các kỳ kết tập kinh điển do các vị tu sĩ tổ chức sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn. Mục đích nhằm gìn giữ và bảo tồn giáo pháp nguyên thủy. Các bài giảng được phân thành chín loại thể loại văn học: khế kinh, ứng tụng, ký thuyết, kệ ngôn, cảm hứng ngữ, như thị thuyết, bổn sinh, kỳ diệu và phương quảng. Quy trình khẩu truyền đòi hỏi đơn giản hóa và chuẩn hóa các bài giảng để dễ ghi nhớ và trì tụng. Hệ thống này được sắp xếp thành các bộ Nikāya trong truyền thống Theravāda.

1.2. Bố cục và nội dung mười chương chính

Cuốn sách gồm mười chương trình bày trọn vẹn con đường tu tập. Chương I bàn về kiếp nhân sinh. Chương II nói về Đức Phật - người đem ánh sáng. Chương III giới thiệu cách tiếp cận giáo pháp. Chương IV trình bày hạnh phúc trong kiếp sống hiện tại. Chương V hướng dẫn con đường tái sinh tốt đẹp. Chương VI phân tích quan kiến thâm sâu về thế giới. Chương VII khai mở con đường giải thoát. Chương VIII bàn về tu tập tâm. Chương IX chiếu sáng tuệ quang. Chương X trình bày các cấp độ thực chứng.

II. Phân tích nội dung giáo lý cốt lõi trong tác phẩm

Nội dung Những lời Phật dạy tập trung vào nhiều khía cạnh quan trọng của giáo pháp. Đức Phật giảng dạy về kiếp nhân sinh với bốn khía cạnh chính. Khía cạnh thứ nhất là khổ đau vốn có trong đời sống. Khía cạnh thứ hai là bản chất vô thường của mọi hiện tượng. Khía cạnh thứ ba là tính không tự ngã của các pháp. Khía cạnh thứ tư là sự ràng buộc vào vòng luân hồi - một khía cạnh khó cảm nhận ngay. Đức Phật dạy kiếp sống mỗi cá nhân chỉ là một giai đoạn trong chuỗi tái sinh vô thủy vô chung. Vô minh và tham ái là nguyên nhân chính khiến chúng sinh lang thang trong cõi ta-bà. Quá trình tái sinh không có điểm bắt đầu rõ ràng. Ngay cả khi truy ngược trình tự cha mẹ qua hệ thống thế giới, vẫn còn vô số đời cha mẹ nối dài tận chân trời xa thẳm.

2.1. Khổ đau và bản chất kiếp nhân sinh

Đức Phật phân tích kiếp nhân sinh với cái nhìn thực tế và sâu sắc. Khổ đau không phải là hình phạt mà là bản chất tự nhiên của đời sống hữu vi. Con người sinh ra trong điều kiện bất toàn, già yếu bệnh tật là quy luật. Cái chết là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, Đức Phật không dừng lại ở bi quan. Ngài chỉ ra nguyên nhân của khổ đau và con đường chấm dứt khổ đau. Hiểu đúng bản chất kiếp sống là bước đầu tiên trên con đường giải thoát.

2.2. Vòng luân hồi và sự trói buộc của vô minh

Vòng luân hồi - saṃsāra - là khái niệm trung tâm trong giáo lý Đức Phật. Saṃsāra có nghĩa là lang thang không định hướng trong các kiếp sống. Vô minh và tham ái là hai yếu tố duy trì sự trói buộc này. Khi vô minh và tham ái vẫn còn nguyên vẹn, quá trình tái sinh sẽ tiếp tục vô hạn định. Không có thời điểm bắt đầu sáng tạo vũ trụ có thể tìm thấy. Quá trình này vừa vô thủy vừa vô chung. Đức Phật xem đây là khủng hoảng ngay trung tâm của kiếp nhân sinh.

III. Phương pháp tiếp cận và học tập Kinh điển Pāli

Việc tiếp cận Kinh điển Pāli đòi hỏi phương pháp phù hợp. Tỳ-khưu Bodhi đã tạo ra một cấu trúc riêng biệt để tổ chức các bài giảng. Cấu trúc này giúp người đọc thấy được khung sườn tổng quát của giáo pháp. Trước đó, nhiều người gặp khó khăn khi đọc các bộ Nikāya. Cách sắp xếp trong kinh điển nguyên thủy có vẻ lộn xộn, trừ Tương ưng bộ có cấu trúc theo chủ đề. Cuốn sách cung cấp bảng đối chiếu thuật ngữ Pāli-Việt hỗ trợ tra cứu. Phần giới thiệu tổng quát giúp người đọc nắm bắt bối cảnh lịch sử và văn hóa. Hệ thống phân loại chín thể loại văn học Phật giáo được giải thích rõ ràng. Người học nên đọc tuần tự từ chương đầu đến cuối để hiểu con đường tu tập toàn diện. Mỗi chương xây dựng trên nền tảng chương trước, tạo thành hệ thống logic chặt chẽ.

3.1. Cấu trúc tổ chức bài giảng theo Tỳ khưu Bodhi

Tỳ-khưu Bodhi nhận thấy nhiều người đọc khó nắm bắt cấu trúc tổng quát của các bài kinh Nikāya. Ngài đã thảo ra cấu trúc riêng tại Tu viện Bồ-đề ở New Jersey từ tháng Giêng 2003. Cấu trúc này sắp xếp các bài giảng theo tiến trình tu tập từ cơ bản đến nâng cao. Người đọc có thể theo dõi con đường từ nhận thức kiếp nhân sinh đến giải thoát cuối cùng. Cách tổ chức này phản ánh hệ thống giáo lý toàn diện của Đức Phật.

3.2. Bảng đối chiếu thuật ngữ và công cụ hỗ trợ học tập

Cuốn sách cung cấp bảng đối chiếu thuật ngữ chi tiết ở cuối sách. Bảng này giúp người đọc hiểu các thuật ngữ Pāli và Sanskrit. Các chữ viết tắt được giải thích rõ ràng trong phần bảng chữ viết tắt. Mục lục chi tiết giúp tra cứu nhanh chóng từng chủ đề. Phần giới thiệu tổng quát cung cấp nền tảng kiến thức cần thiết. Những công cụ này đặc biệt hữu ích cho người mới bắt đầu nghiên cứu Phật giáo nguyên thủy.

IV. Giá trị và ứng dụng của Kinh điển Pāli trong đời sống

Kinh điển Pāli mang giá trị to lớn cho mọi truyền thống Phật giáo. Đây là văn bản cổ xưa nhất về lời dạy của Đức Phật hiện còn tồn tại. Những lời dạy trong đó là đầu nguồn của tất cả dòng chảy giáo lý và thực hành Phật giáo qua nhiều thế kỷ. Phật tử mọi tông phái cần nghiên cứu các bài kinh này để hiểu cội rễ Phật giáo. Giá trị không chỉ nằm ở mặt học thuật mà còn ở khả năng ứng dụng thực tiễn. Giáo lý về hạnh phúc trong kiếp sống hiện tại mang tính thực dụng cao. Con đường tái sinh tốt đẹp và giải thoát cung cấp hướng đi rõ ràng cho người tu tập. Phương pháp tu tập tâm và chiếu sáng tuệ quang có thể áp dụng ngay trong đời sống hàng ngày. Các cấp độ thực chứng là đích đến cụ thể cho hành giả chuyên cần.

4.1. Ý nghĩa học thuật và bảo tồn di sản Phật giáo

Kinh điển Pāli là di sản chung cho tất cả truyền thống Phật giáo. Các bài kinh này bắt nguồn từ giai đoạn sớm nhất của lịch sử văn học Phật giáo. Chúng có các bản kinh tương đương trong các bộ phái Phật giáo Sơ kỳ khác. Các bản kinh Pāli và bản tương đương khác nhau chủ yếu về bối cảnh và cách bố trí, không khác về mặt giáo lý. Việc bảo tồn và dịch thuật các bài kinh này đóng góp quan trọng cho việc hiểu biết Phật giáo toàn cầu.

4.2. Ứng dụng thực hành trong đời sống hàng ngày

Giáo lý Đức Phật trong Kinh điển Pāli có giá trị ứng dụng thực tiễn cao. Hạnh phúc thấy được trong kiếp sống này là chủ đề thiết thực cho mọi người. Con đường tu tập tâm giúp cải thiện chất lượng đời sống tinh thần. Chiếu sáng tuệ quang phát triển trí tuệ và hiểu biết sâu sắc. Các phương pháp quán chiếu về vô thường, khổ, vô ngã giúp giảm bớt chấp trước. Người thực hành có thể áp dụng từng bước, từ giữ giới đến thiền định và phát triển trí tuệ.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Những lời Phật dạy Trích lục các bài giảng trong Kinh điển Pāli Phiên bản 17/02/2021 SÁCH ẤN TỐNG, KHÔNG BÁN Những lời Phật dạy Trích lục các bài giảng trong Kinh điển Pāli Tỳ-khưu Bodhi biên soạn và giới thiệu 2005 Bình Anson dịch 2016 NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO MỤC LỤC Lời nói đầu 7 Tỳ-khưu Bodhi 11 Bảng các chữ viết tắt 13 Mục lục chi tiết 15 Giới thiệu tổng quát 25 I. Kiếp nhân sinh 43 II. Người đem ánh sáng 71 III. Tiếp cận giáo pháp 120 IV. Hạnh phúc thấy được trong kiếp sống này 153 V. Con đường để tái sinh tốt đẹp 205 VI. Quan kiến thâm sâu về thế giới 249 VII. Con đường giải thoát 299 VIII. Tu tập tâm 339 IX. Chiếu sáng tuệ quang 387 X. Các cấp độ thực chứng 473 Đối chiếu thuật ngữ 541 5 6 LỜI NÓI ĐẦU Các bài giảng của Đức Phật được bảo tồn trong kinh điển Pāli được gọi là các sutta (kinh), tiếng Sanskrit tương đương là sūtra. Mặc dù kinh điển Pāli thuộc về một bộ phái Phật giáo – bộ phái Theravāda hay Thượng tọa bộ – không có nghĩa là các bài kinh này chỉ dành riêng cho Theravāda. Các bài kinh ấy bắt nguồn từ giai đoạn sớm nhất của lịch sử văn học Phật giáo, một giai đoạn kéo dài khoảng một trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt, trước khi cộng đồng Phật giáo nguyên thủy phân chia thành nhiều bộ phái khác nhau. Các bài kinh Pāli có các bài kinh tương đương trong các bộ phái Phật giáo Sơ kỳ khác – các bộ phái này ngày nay không còn hiện hữu, đôi khi cũng rất giống bản Pāli, khác nhau chủ yếu là về bối cảnh và cách bố trí, nhưng không khác nhau về mặt giáo lý. Các bài kinh Pāli là những văn bản cổ xưa nhất về lời dạy của Đức Phật mà hiện nay chúng ta có được. Đó là những gì gần gũi nhất với các bài giảng của Đức Phật lịch sử. Những lời dạy được tìm trong đó là đầu nguồn của tất cả những dòng chảy tiến hóa của giáo lý và thực hành trong đạo Phật, qua nhiều thế kỷ. Vì lý do đó, các bài kinh Pāli tạo thành một di sản chung cho tất cả mọi truyền thống Phật giáo. Phật tử của tất cả các tông phái muốn hiểu được cội rễ của Phật giáo cần phải đặt ưu tiên trong việc nghiên cứu học tập các bài kinh này. Trong kinh điển Pāli, các bài giảng của Đức Phật được sưu tập và bố trí vào các bộ kinh Nikāya. Trong hai mươi năm qua, các bản dịch mới bằng tiếng Anh của bốn bộ Nikāya chính đã được in ra trong các bản in đẹp và phổ biến rộng rãi. Nhiều người sau khi đọc các bộ kinh này đã nói với tôi rằng các bản dịch đó giúp họ hiểu biết rõ ràng hơn. Tuy nhiên, những người khác khi cố gắng tìm đọc các bản kinh Nikāya lại 7 nói với tôi khác hơn. Họ nói rằng trong khi các bản dịch này đọc dễ hiểu hơn các bản dịch trước đó, họ vẫn cảm thấy khó khăn. Họ không thể thấy được cấu trúc tổng quát của các bài kinh, một khung sườn trong đó các bài kinh được sắp xếp. Ngay chính các bộ Nikāya không giúp gì nhiều trên phương diện này, vì cách sắp xếp dường như có vẻ khá lộn xộn – với ngoại lệ của Tương ưng bộ có cấu trúc theo chủ đề. Trong loạt các bài giảng mà tôi tiến hành tại Tu viện Bồ-đề ở bang New Jersey, Hoa Kỳ, từ tháng Giêng 2003, tôi đã thảo ra một cấu trúc của riêng tôi để sắp xếp nội dung Trung bộ kinh. Cấu trúc này trình bày từng bước về thông điệp của Đức Phật, từ đơn giản đến phức tạp, từ sơ đẳng đến thâm sâu. Khi suy ngẫm lại, tôi thấy cấu trúc này không chỉ áp dụng cho Trung bộ, mà có thể dùng cho tất cả bốn bộ Nikāya. Do đó, cuốn sách này được tổ chức trích lục các bài kinh từ bốn bộ Nikāya, trong khuôn khổ cấu trúc dựa theo chủ đề phát triển dần lên. Cuốn sách nhằm để phục vụ hai nhóm độc giả. Nhóm thứ nhất là những người chưa quen với các bài giảng của Đức Phật và cảm thấy cần một sự giới thiệu có hệ thống. Đối với các độc giả như vậy, bất kỳ bộ kinh Nikāya nào cũng có vẻ mơ hồ. Tất cả bốn bộ kinh Nikāya, nếu xem cùng một lúc, có thể sẽ giống như một khu rừng – dày đặc với nhiều loại thú hoang ẩn hiện, hay như một đại dương mênh mông, đầy biến động hoàn toàn xa lạ. Tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽ phục vụ như là một bản đồ để giúp những độc giả ấy đi thông qua khu rừng của các bài kinh, hoặc như một con tàu mạnh mẽ để mang các vị ấy đi khắp đại dương của Giáo Pháp. Nhóm độc giả thứ hai mà cuốn sách này nhắm đến là những người, tuy đã quen với những bài kinh, nhưng vẫn chưa thấy các bài kinh đó kết hợp như thế nào trong một tổng thể khả tri. Đối với các độc giả như vậy, những bài kinh cá biệt có thể được hiểu riêng rẽ nhưng các đoạn kinh văn xuất hiện giống như những mảnh giấy của một trò chơi ghép hình rải rác trên 8 bàn. Một khi độc giả thông hiểu cấu trúc trong cuốn sách này, vị ấy sẽ có một khái niệm rõ ràng về cấu trúc các lời Phật dạy. Từ đó, với việc suy tư thêm nữa, vị ấy có thể xác định vị trí của bất kỳ bài kinh nào trong lâu đài Giáo Pháp, cho dù được hay không được đề cập trong cuốn sách. Tuyển tập trích lục này, hoặc bất cứ tập trích lục kinh điển nào khác, không thể thay thế cho các bộ kinh Nikāya. Tương ứng với hai nhóm độc giả mà cuốn sách được thiết kế, tôi mong rằng: (1) những người mới đến với văn học Phật giáo Sơ kỳ sẽ thấy thích thú và được động viên tìm đọc đầy đủ các bộ kinh Nikāya; và (2) những người đã có kinh nghiệm đọc các bộ Nikāya, sau khi đọc cuốn sách này sẽ có hiểu biết tốt hơn về nguồn kinh điển mà họ đã quen thuộc. Thêm vào đó, tôi hy vọng tập sách trích lục này có thể trình bày được tầm vóc rộng lớn của trí tuệ Đức Phật. Đôi khi, Phật giáo Sơ kỳ được xem như là một công phu tu tập xuất ly thế tục, chủ yếu dành cho các nhà tu khổ hạnh và ẩn sĩ. Nhưng các bài giảng cổ xưa trong kinh điển Pāli cho chúng ta thấy rõ ràng là trí tuệ và lòng từ bi của Đức Phật đã đi sâu vào đời sống thế tục, cung cấp các hướng dẫn cho những người bình thường, để có được đạo đức và nhận thức đúng đắn. Không phải chỉ dành riêng cho tầng lớp tu sĩ, Phật giáo cổ xưa bao gồm sự cộng tác mật thiết giữa hai giới cư sĩ và tu sĩ, trong nhiệm vụ chung là giữ gìn lời dạy của Đức Phật và đồng thời giúp đỡ lẫn nhau trong nỗ lực đi trên con đường đưa đến sự tận diệt đau khổ. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Giáo Pháp đã cung cấp những hướng dẫn, cảm hứng, niềm vui và sự khích lệ dồi dào và thâm sâu. Hầu như tất cả các đoạn kinh văn trong cuốn sách này đã được lựa chọn từ các bản dịch tiếng Anh mới nhất của bốn bộ Nikāya. Tuy nhiên, hầu như các đoạn trích lục đó đều được tôi chỉnh sửa, không ít thì nhiều, theo sự hiểu biết của tôi về kinh văn và về tiếng Pāli. Tôi cũng tuyển chọn một vài bài 9 kinh của tập Phật Tự Thuyết và Phật Thuyết Như Vậy trong bộ Nikāya thứ năm – Tiểu bộ, dựa theo bản dịch tiếng Anh của ông John Ireland, với vài sửa đổi theo cách dùng thuật ngữ của tôi. Tôi ưu tiên dùng các bài kinh văn xuôi hơn là các bài theo thể kệ, vì các bài kinh văn xuôi trình bày trực tiếp và rõ ràng hơn. Khi một bài kinh có kèm theo các câu kệ, nếu các câu kệ chỉ lặp lại ý tưởng của các đoạn văn xuôi đi trước, để tiết kiệm, tôi bỏ qua các đoạn kệ đó. Mỗi chương bắt đầu với phần dẫn nhập, trong đó, tôi giải thích các khái niệm nổi bật, liên quan đến chủ đề của chương và cố gắng trình bày làm thế nào tôi đã chọn các kinh văn tiêu biểu cho chủ đề đó. Tôi xin tri ân ông Timothy McNeill và David Kittelstrom của nhà xuất bản Wisdom Publications đã khích lệ tôi kiên trì biên soạn và hoàn tất cuốn sách trong những lúc sức khỏe của tôi không được tốt. Tỳ-khưu Anālayo và Tỳ-khưu Nyanasobhano đã đọc và góp ý về các phần dẫn nhập trong cuốn sách và ông John Kelly đã giúp rà soát toàn thể cuốn sách. Tôi rất tri ân sự đóng góp của ba vị. Cuối cùng, tôi xin tri ân các học viên các khóa Pāli và khóa Phật Pháp tại Tu viện Bồ-đề với sự quan tâm nồng nhiệt về những lời giảng dạy của Đức Phật trong các bộ Nikāya, đã tạo niềm hứng khởi cho tôi biên soạn cuốn sách. Tôi đặc biệt tri ân vị sáng lập tu viện, ngài Hòa thượng Jen- Chun (Nhân Tuấn), đã đón nhận một tu sĩ của truyền thống Phật giáo khác đến trú ngụ tại Tu viện và đã có mối quan tâm đặc biệt, nối cầu Bắc truyền và Nam truyền trong giáo lý Phật giáo Sơ kỳ. Tỳ-khưu Bodhi Bodhi Monastery, New Jersey, USA 2005 10 TỲ-KHƯU BODHI Tỳ-khưu Bodhi (Bhikkhu Bodhi), người Mỹ, sinh năm 1944 tại Brooklyn, NewYork. Ngài có bằng Cử nhân Triết học (1966, Đại học Brooklyn) và Tiến sĩ Triết học (Đại học Clare- ment). Ngài là một học giả Phật giáo uyên thâm nổi tiếng qua các công trình dịch thuật và trước tác của ngài. Vào lứa tuổi 20, ngài đã yêu thích tìm hiểu đạo Phật và tìm đọc nhiều sách Phật giáo về Thiền tông và Phật giáo Đại thừa. Khi theo học chương trình cao học, ngài làm bạn với một vị tu sĩ Việt Nam, Thượng tọa Thích Giác Đức và được Thượng tọa hướng dẫn hành thiền, trên căn bản là dựa theo bốn pháp Lập Niệm, pháp niệm hơi thở và pháp quán tâm Từ. Sau đó ngài xin xuất gia sa-di với Thượng tọa Giác Đức vào năm 1967. Sau khi hoàn tất học vị Tiến sĩ Triết học, ngài đến tu tại Phật học viện Quốc tế, Los Angeles, với Hòa thượng Thích Thiên Ân. Tại đây, ngài gặp Hòa thượng Thích Minh Châu trong một chuyến công du sang Hoa Kỳ. Hòa thượng Thích Minh Châu khuyên ngài nên sang Sri Lanka để học kinh điển Pāli và viết thư giới thiệu ngài đến các vị cao tăng Sri Lanka. Năm 1972, ngài du hành đến Sri Lanka. Trên đường du hành, ngài có ghé thăm Việt Nam, lưu tại Sài Gòn trong hai tháng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ