Luận văn thạc sĩ về Phật giáo Bắc tông tại tỉnh Trà Vinh hiện nay

Dưới đây là meta tags cho bài viết 'Phật giáo bắc tông tại trà vinh hiện nay luận văn thạc sỹ': { "ai_description": "Tìm hiểu Phật giáo Bắc tông tại Trà

Trường đại học

Đại học Trà Vinh

Chuyên ngành

Phật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

131
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh hiện nay

Phật giáo Bắc Tông (hay Phật giáo Nguyên Thủy) tại Trà Vinh hiện nay là một nhánh quan trọng trong hệ thống Phật giáo Việt Nam, có lịch sử phát triển lâu đời gắn liền với vùng đất Nam Bộ. Được truyền vào Trà Vinh từ thế kỷ XIX, Phật giáo Bắc Tông đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, từ thời kỳ suy vi dưới ách đô hộ thực dân Pháp đến công cuộc chấn hưng mạnh mẽ vào thế kỷ XX. Hiện nay, Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh hoạt động dưới sự quản lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Trà Vinh, với hệ thống chùa chiền, tăng ni và hoạt động hoằng pháp phong phú. Đặc biệt, tỉnh Trà Vinh ghi nhận sự đóng góp quan trọng của Phật giáo Bắc Tông trong lĩnh vực an sinh xã hội, giáo dục và từ thiện, góp phần xây dựng cộng đồng vững mạnh. Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có hơn 300 ngôi chùa, trong đó có nhiều ngôi chùa có lịch sử lâu đời như chùa Long Khánh, chùa Phước Hậu.

1.1. Bối cảnh hình thành và phát triển

Phật giáo Bắc Tông du nhập vào Trà Vinh vào khoảng cuối thế kỷ XIX, trong bối cảnh thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Ban đầu, Phật giáo tại đây chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các hệ phái Phật giáo Nam Tông, nhưng dần dần phát triển thành hệ phái Bắc Tông với những đặc trưng riêng. Sự kiện quan trọng đánh dấu sự phát triển của Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh là sự thành lập Liên đoàn Phật học xã vào năm 1933 bởi Hòa thượng Khánh Hòa, nhằm chấn hưng Phật giáo và đào tạo tăng tài. Từ đó, Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh dần được khẳng định vị thế thông qua các hoạt động giáo dục, hoằng pháp và từ thiện.

1.2. Đặc điểm văn hóa xã hội

Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh mang đậm dấu ấn văn hóa xã hội của vùng đất Nam Bộ, nơi có đông đảo cộng đồng người Khmer sinh sống. Sự giao thoa giữa văn hóa Phật giáo Bắc Tông và văn hóa dân tộc Khmer đã tạo nên những nét đặc sắc riêng trong đời sống tâm linh của người dân. Hoạt động Phật giáo tại đây không chỉ giới hạn trong phạm vi chùa chiền mà còn lan tỏa vào cộng đồng thông qua các hoạt động an sinh xã hội, giáo dục đạo đức và bảo tồn di sản văn hóa. Đặc biệt, các lễ hội Phật giáo như lễ Vu Lan, lễ Phật Đản được tổ chức quy mô, thu hút sự tham gia đông đảo của người dân.

II. Hiện trạng và vai trò của Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh

Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh hiện nay đang hoạt động trong bối cảnh xã hội Việt Nam đổi mới, với nhiều cơ hội và thách thức mới. Theo thống kê, toàn tỉnh có hơn 300 ngôi chùa, trong đó có nhiều ngôi chùa có lịch sử lâu đời như chùa Long Khánh, chùa Phước Hậu. Hệ thống chùa chiền được quản lý bởi Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Trà Vinh, với sự tham gia của hàng trăm tăng ni. Hoạt động hoằng pháp và giáo dục Phật giáo được đẩy mạnh thông qua các khóa tu, lớp học giáo lý và các khóa đào tạo tăng ni. Ngoài ra, Phật giáo Bắc Tông còn đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực an sinh xã hội, với các hoạt động từ thiện như cứu trợ thiên tai, xây dựng nhà tình nghĩa và hỗ trợ người nghèo. Những hoạt động này góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng.

2.1. Hệ thống tổ chức và quản lý

Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh hoạt động dưới sự quản lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Trà Vinh, với trụ sở chính đặt tại chùa Long Khánh. Giáo hội tỉnh có vai trò điều phối các hoạt động Phật sự, đào tạo tăng ni và quản lý tài chính của các chùa. Ngoài ra, các chùa trực thuộc Giáo hội tỉnh cũng có sự tự chủ nhất định trong hoạt động quản lý và sinh hoạt. Hệ thống tổ chức này giúp đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động Phật giáo, đồng thời tạo điều kiện cho các chùa phát huy vai trò trong cộng đồng.

2.2. Hoạt động an sinh xã hội

Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực an sinh xã hội thông qua các hoạt động từ thiện, cứu trợ và hỗ trợ cộng đồng. Các hoạt động này bao gồm cứu trợ đồng bào bị thiên tai, xây dựng nhà tình nghĩa, tặng quà cho người nghèo, khám chữa bệnh miễn phí và dạy nghề cho thanh niên. Những hoạt động này không chỉ giúp giảm nghèo đói mà còn góp phần xây dựng cộng đồng đoàn kết, vững mạnh. Đặc biệt, các hoạt động an sinh xã hội của Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh được đánh giá cao bởi sự minh bạch, hiệu quả và tinh thần nhân đạo.

III. Các yếu tố ảnh hưởng và xu thế biến đổi

Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh đang chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa toàn cầu. Sự phát triển kinh tế xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động Phật giáo, nhưng cũng đặt ra những thách thức mới như sự suy giảm tín ngưỡng truyền thống, sự cạnh tranh từ các tôn giáo khác và sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây. Xu thế biến đổi của Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh thể hiện qua sự đa dạng hóa hoạt động, tăng cường hợp tác quốc tế và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoằng pháp. Những xu thế này nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh ngày càng phong phú của người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của Phật giáo trong bối cảnh mới.

3.1. Ảnh hưởng của kinh tế xã hội

Sự phát triển kinh tế xã hội tại Trà Vinh đã tác động tích cực đến hoạt động Phật giáo Bắc Tông thông qua việc tăng cường nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất. Các chùa chiền được đầu tư sửa chữa, nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sinh hoạt tôn giáo. Ngoài ra, sự gia tăng thu nhập của người dân cũng tạo điều kiện cho họ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động từ thiện và an sinh xã hội của Phật giáo. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế cũng đặt ra những thách thức như sự suy giảm tín ngưỡng truyền thống, sự cạnh tranh từ các tôn giáo khác và sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây.

3.2. Xu thế biến đổi và thích ứng

Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh đang trải qua quá trình biến đổi mạnh mẽ nhằm thích ứng với bối cảnh mới. Những xu thế biến đổi bao gồm sự đa dạng hóa hoạt động Phật giáo, tăng cường hợp tác quốc tế và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoằng pháp. Đặc biệt, các hoạt động giáo dục Phật giáo được đẩy mạnh thông qua các khóa học trực tuyến, các ứng dụng di động về giáo lý Phật giáo. Những xu thế này nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh ngày càng phong phú của người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của Phật giáo trong bối cảnh mới.

IV. Giải pháp phát triển bền vững Phật giáo Bắc Tông

Để phát triển bền vững Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh trong tương lai, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Trà Vinh và cộng đồng Phật tử. Giải pháp đầu tiên là tăng cường đào tạo tăng ni, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua các khóa học giáo lý, tu tập và quản lý. Thứ hai, cần đẩy mạnh hoạt động an sinh xã hội, từ thiện nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng. Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoằng pháp, quản lý chùa chiền để nâng cao hiệu quả hoạt động. Cuối cùng, cần tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức Phật giáo trong khu vực nhằm nâng cao vị thế của Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh.

4.1. Nâng cao chất lượng đào tạo tăng ni

Đào tạo tăng ni là yếu tố then chốt quyết định sự phát triển bền vững của Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh. Cần xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu về giáo lý, tu tập và quản lý, kết hợp với các khóa học thực hành tại các chùa. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác với các trường Phật học trong nước và quốc tế để nâng cao chất lượng đào tạo. Việc đào tạo tăng ni không chỉ giúp nâng cao trình độ chuyên môn mà còn góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của Phật giáo Bắc Tông.

4.2. Tăng cường hoạt động an sinh xã hội

Hoạt động an sinh xã hội là một trong những lĩnh vực quan trọng mà Phật giáo Bắc Tông tại Trà Vinh có thể đóng góp nhiều nhất cho cộng đồng. Cần đẩy mạnh các hoạt động từ thiện, cứu trợ, hỗ trợ người nghèo và xây dựng nhà tình nghĩa. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác với các tổ chức xã hội, chính quyền địa phương để triển khai các chương trình an sinh xã hội hiệu quả. Những hoạt động này không chỉ giúp giảm nghèo đói mà còn góp phần xây dựng cộng đồng đoàn kết, vững mạnh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Phật giáo bắc tông tại trà vinh hiện nay luận văn thạc sỹ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 BỐI CẢNH HÌNH THÀNH VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO BẮC TÔNG TẠI TRÀ VINH 1. Vùng đất và con người Trà Vinh 1. Vùng đất Trà Vinh Trà Vinh còn gọi là Trà Vang xuất phát từ âm tiếng Khmer, phiên âm theo tiếng Pháp là “Préah Trapéang”, có nghĩa là nơi tìm được tượng Phật bằng đá trong ao nước. Trong một trận nước lụt, dân làng thấy tượng Phật trôi tấp vào bờ ao liền rước về một gò cao cạnh đó xây chùa thờ phượng.

Chùa được đặt tên là Bodhisalareaj, nay gọi là chùa Ông Mẹt, gọi theo tên của vị trụ trì đầu tiên. Trapéang được Hán Việt hóa thành âm Trà Văn, về sau bị nói trại thành Trà Vang sau gọi là Trà Vinh [40 , 08]. Lịch sử hình thành vùng đất này, theo tài liệu lưu trữ của Tỉnh ủy Trà Vinh trải qua các giai đoạn sau: Thời kỳ chúa Nguyễn và nhà Nguyễn: Năm 1732, Chúa Nguyễn Phúc Chú (Chúa Ninh) lập châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ thì Trà Vinh bấy giờ thuộc châu Định Viễn. Năm 1802, Vua Gia Long lên ngôi đổi Gia Định phủ thành Gia Định trấn, lãnh thổ Gia Định trấn được chia làm bốn dinh, Trà Vinh thuộc dinh Vĩnh Trấn.

Năm 1803, Gia Long đổi dinh Vĩnh Trấn thành dinh Hoằng Trấn, Trà Vinh lúc này thuộc dinh Hoằng Trấn. Năm 1808, Gia Long đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành, dinh Hoằng Trấn đổi thành Vĩnh Thanh trấn, Trà Vinh thuộc Vĩnh Thanh trấn. Năm 1825, vùng Trà Vinh được Vua Minh Mạng thành lập phủ Lạc Hóa, thuộc Gia Định thành, có hai huyện Trà Vinh và Tuân Nghĩa. Năm 1832, Vua Minh Mạng đổi các trấn thành tỉnh, Nam bộ bấy giờ chia thành Lục tỉnh, gọi là Lục tỉnh Nam kỳ gồm: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, bấy giờ Trà Vinh thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long.

Thời kỳ Pháp thuộc: Năm 1876, Thống đốc Nam kỳ ra quyết định chia Nam kỳ ra bốn khu vực hành chánh lớn, khu vực hành chánh lớn Vĩnh Long chia làm bốn tiểu khu gồm: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Sa Đéc. Ngày 20 tháng 12 năm 1899, quan Toàn quyền Đông Dương đã đổi tiểu khu thành tỉnh, ngày 01 tháng 01 năm 1900, tỉnh Trà Vinh 8 được thành lập, là một tỉnh trong hai mươi tỉnh của Nam kỳ lúc bấy giờ. Năm 1951, chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa quyết định nhập tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh thành một tỉnh gọi là tỉnh Vĩnh-Trà, tồn tại tới năm 1954, lại trả về tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh như cũ. Thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa: Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình cho đến ngày giải phóng đất nước 30 tháng 04 năm 1975.

Thời kỳ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Tháng 02 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long. Năm 1991, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa VIII ra quyết định giải thể tỉnh Cửu Long, tái lập tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh như cũ. Tỉnh Trà Vinh lúc bấy giờ có một thị xã là thị xã Trà Vinh và bảy huyện gồm: Càng Long, Châu Thành, Cầu Kè, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang và Duyên Hải. Theo cổng thông tin điện tử tỉnh Trà Vinh, ngày 04 tháng 03 năm 2010, Chính phủ Việt Nam ban hành nghị quyết số 11/NQ-CP chuyển thị xã Trà Vinh lên thành phố Trà Vinh trực thuộc tỉnh Trà Vinh.

Năm 2015, thành lập thị xã Duyên Hải trên cơ sở tách một phần diện tích và dân số của huyện Duyên Hải, gồm có hai phường và năm xã.1 Bảng đồ địa chính tỉnh Trà Vinh Nguồn: Phòng địa chính, sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh 2015 9 Địa lý tỉnh Trà Vinh: Việt Nam là quốc gia có bờ biển chạy dài từ Bắc tới Nam, thuận lợi cho phát triển kinh tế biển như đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản. Trà Vinh là một trong những tỉnh duyên hải thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm phía Tây Nam của Nam bộ, phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre. Tỉnh Trà Vinh nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, có hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt, có hai cửa sông chính đổ ra biển là Cung Hầu và Định An. Vị trí địa lý giới hạn từ 9031’46’’ đến 1004’5’’ vĩ độ Bắc và từ 105056’16’’ đến 106036’04’’ kinh độ Đông, cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km bởi quốc lộ 53 qua tỉnh Vĩnh Long.

Đi quốc lộ 60 qua tỉnh Bến Tre chỉ còn 130 km, cách thành phố Cần Thơ 100 km. Diện tích toàn tỉnh là 2.341,2 km2, địa hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ cao trên dưới 1m so với mặt nước biển, có các giồng cát chạy liên tục theo hình vòng cung và song song với bờ biển, càng về phía biển các giồng này càng cao và rộng. Tỉnh Trà Vinh có 65 km bờ biển, toàn tỉnh có hệ thống sông chính với tổng chiều dài 578 km. Tỉnh Trà Vinh có các sông lớn là sông Hậu, sông Cổ Chiên, sông Măng Thít.

Khí hậu tỉnh Trà Vinh tương đối ôn hòa ổn định, ít bị ảnh hưởng bởi bão lũ, nhiệt độ trung bình từ 26 – 27 0c, độ ẩm trung bình 80 – 85% /năm. Lượng mưa trung bình từ 1.600 mm, hàng năm hạn hán cũng thường xảy ra, lượng mưa ít gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Con người Trà Vinh Theo cục thống kê dân số tỉnh Trà Vinh năm 2010 là 1.600 người, mật độ dân số là 414 người/km2, các dân tộc cộng cư ở Trà Vinh là Khmer, Việt, Hoa, Chăm. dân số Trà Vinh chiếm 5,99% đồng bằng sông Cửu Long, hơn 70% dân số sống ở nông thôn, tỉ lệ tăng dân số năm 2000 là 1,65.

Trên địa bàn tỉnh Trà Vinh người Kinh chiếm khoảng 69%, người Khmer chiếm khoảng 30% còn lại là người Hoa và các dân tộc khác.2 Bảng dân số của các dân tộc tỉnh Trà Vinh lập năm 2016. STT DÂN TỘC DÂN SỐ TỈ LỆ 1 Người Kinh 698.694 69% 2 Người Khmer 303.780 30% 3 Người Hoa và các dân tộc khác 10.600 100% (Theo số liệu Cục thống kê tỉnh Trà Vinh năm 2010) Về tôn giáo, hiện tại tỉnh Trà Vinh có 09 tôn giáo bao gồm Phật giáo, Công giáo, Islam giáo, Tin Lành, Cao Đài, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật hội, Phật giáo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Bửu Sơn Kỳ Hương. Trong số đó, Phật giáo chiếm trên 60% dân số của tỉnh, theo báo cáo tổng kết cuối năm vào tháng 12 năm 2007 của Ban trị sự tỉnh tại chùa Lưỡng Xuyên. Người Khmer đa phần theo Phật giáo Nam tông đã có mặt trên mảnh đất Trà Vinh từ rất sớm, số ít theo Tin Lành.

Người Hoa trong quá trình di cư vào tỉnh Trà Vinh họ đem theo tín ngưỡng từ Trung Hoa sang, đa phần theo tín ngưỡng dân gian thờ ông Bổn, Ngũ Hành Nương Nương, Quan Thánh Đế Quân và theo Phật giáo. Người Chăm theo Islam giáo, người Việt đa phần theo Phật giáo Bắc tông, còn lại theo Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Công giáo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương,…Chúng ta cần phải tìm hiểu khái quát về các đạo giáo có mặt tại tỉnh Trà Vinh. Phật giáo Nam tông Khmer (Theraveda) tại Trà Vinh đã có từ rất sớm, theo ban tôn giáo tỉnh Trà Vinh, chùa Som-Bua-Răng-Sây tại xã Hòa Ân, huyện Cầu Kè được thành lập năm 373. Đây là giai đoạn vùng đất Trà Vinh thuộc vương quốc Phù Nam, được hình thành vào khoảng đầu thế kỷ thứ I Tây lịch và tồn tại đến khoảng thế kỷ thứ VI, thứ VII Tây lịch.

Trần Hồng Liên cũng cho rằng Phật giáo đã có mặt từ thời vương quốc Phù Nam, từ thế kỷ thứ V (năm Giáp Tý 484), khi vua Kaundinya Jayavarman phán sai nhà sư Nagasena 11 qua Trung Quốc, đạo Phật đã tồn tại ở Phù Nam [52, 08]. Được hình thành từ rất sớm, Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Trà Vinh có quá trình hình thành và phát triển lâu đời. Hiện nay, Phật giáo Nam tông Khmer tại Trà Vinh có 143 ngôi chùa và 3.[63, 04] Bên cạnh Phật giáo Nam tông Khmer, tại Trà Vinh có sự du nhập của Phật giáo Nam tông Kinh được truyền thụ từ HT. Pháp Lạc chùa Pháp Bảo tỉnh Tiền Giang, sư Pháp Hỷ về xã Hòa Ân, huyện Cầu Kè xây dựng chùa Lộc Giả năm 1960.

Ngọc Giáo đắc pháp với HT. Ngọc Hòa từ chùa Bửu Pháp - Cần Thơ, về lập chùa Bửu Châu thị xã Phú Vinh, tỉnh Vĩnh Bình năm 1965 [56, 17]. Hiện nay, Phật giáo Nam tông Kinh có 4 ngôi chùa, 5 vị tu sĩ, theo báo cáo tổng kết cuối năm 2016 của Ban trị sự tỉnh tại chùa Lưỡng Xuyên. Năm 1944, sau khi Tổ sư Minh Đăng Quang ngộ đạo, Tổ bắt đầu truyền giáo từ làng Phú Mỹ - Mỹ Tho.

Đạo Phật hệ phái Khất sĩ được thành lập, từng giáo đoàn thay phiên nhau đi hành đạo, truyền bá giáo pháp Khất sĩ khắp vùng Nam bộ, Trung bộ và miền Đông-Nam phần. Hệ phái Khất sĩ tại tỉnh Trà Vinh được truyền vào thập niên sáu mươi, do Ni trưởng Huỳnh Liên [56, 17]. Hiện nay, hệ phái Khất sĩ tại tỉnh Trà Vinh có 6 tịnh xá, 2 tịnh thất, 1 chùa, có 17 vị tu sĩ, theo báo cáo tổng kết cuối năm 2016 của Ban trị sự tỉnh Trà Vinh, tại chùa Lưỡng Xuyên. Ngoài Phật giáo, tỉnh Trà Vinh còn có sự hoạt động của các tôn giáo khác.

Đặc biệt, Công giáo tại tỉnh Trà Vinh được truyền vào giai đoạn cấm đạo ngặt nghèo của các vua triều Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị. do Linh mục Philipphê Phan Văn Minh. Các vùng được truyền giảng trước tiên là Mặc Bắc (Long Thới), Chà Và (Vĩnh Bình), và Dòng Rùm (Phước Hảo). Năm 1863, khi tỉnh Trà Vinh được thành lập, các Linh mục thừa sai đến đảm nhiệm các họ đạo nói trên và bắt đầu thiết lập họ đạo mới tại tỉnh lỵ.

Các ngôi nguyện đường nhỏ được dựng lên và sửa sang dần. Hiện nay, toàn tỉnh có 28 ngôi thánh đường rộng rãi khang trang dưới sự chăm sóc chu đáo của 20 Linh mục [41, 13]. Theo tài liệu lưu trữ Ban 12 tôn giáo tỉnh Trà Vinh vào năm 2015, Công giáo có 43 cơ sở thờ tự, có 54 Linh mục, 81 Nữ tu, có 64. Tại Nam bộ vào thế kỷ XIX, có sự ra đời của các tôn giáo bản địa như đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Cao Đài,.

tất cả đều được truyền vào tỉnh Trà Vinh vào khoảng đầu thế kỷ XX.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ