Phật Học Khái Luận - Thích Chơn Thiện: Giới thiệu Tam Bảo Phật Pháp Tăng

Tổng hợp tài liệu và hướng dẫn chi tiết quy trình viết luận văn cuối khóa ngành Công nghệ Thông tin (CNTT) khóa 42. Bí quyết đạt điểm cao.

Chuyên ngành

Phật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

536
0
0

Phí lưu trữ

135 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Luận văn cuối khóa cntt 42 trong nghiên cứu Phật học

Luận văn cuối khóa cntt 42 tập trung vào nội dung cốt lõi của Phật học. Chủ đề chính bao gồm Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Phật học khám phá các khái niệm như Phật tâm, Phật tánh, và các nguyên lý Tứ đế, Thập nhị nhân duyên. Tài liệu tham khảo chính là 'Phật Học Khái Luận' của Thượng tọa Thích Chơn Thiện. Tác phẩm trình bày mạch lạc, rõ ràng, giới thiệu nội dung cơ bản của Phật học. Luận văn cũng nhấn mạnh tính thực tiễn của Pháp. Giáo lý được áp dụng vào đời sống cá nhân, gia đình, xã hội. Mục tiêu là hiểu rõ Phật giáo qua Tam Bảo. Nghiên cứu dựa trên Kinh Nikàya và A-hàm. Nội dung phù hợp với nhiều đối tượng độc giả. Luận văn cung cấp cái nhìn toàn diện về Phật học.

1.1. Ý nghĩa của Phật trong Luận văn cuối khóa cntt 42

Phật trong Luận văn cuối khóa cntt 42 đại diện cho giác ngộ viên mãn. Phật tâm chỉ bản chất sáng suốt của mọi chúng sinh. Phật tánh là tiềm năng thành Phật vốn có. Phật nguyện, Phật hạnh, Phật trí, Phật đức, Phật thân, Phật độ là các khía cạnh của Phật quả. Đức Phật đạt Tuệ giác vô thượng dưới cội Bồ-đề. Sự kiện thành đạo là nền tảng cho giáo lý giải thoát. Luận văn phân tích các khía cạnh này để hiểu sâu về Phật Bảo. Từ đó, người học nhận ra con đường tu tập. Phật học không chỉ là lý thuyết mà còn là thực hành.

1.2. Vai trò của Pháp và Tăng trong Luận văn

Pháp và Tăng là hai phần quan trọng trong Luận văn cuối khóa cntt 42. Pháp bao gồm Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Vô ngã, Nhân quả, Nghiệp báo, Luân hồi, Lục độ, Thập độ, Pháp tướng. Giáo lý này chỉ ra nguyên nhân khổ đau và con đường diệt khổ. Tăng đoàn thể hiện chí nguyện, giới luật, sinh hoạt, bổn phận của người xuất gia. Tăng là nơi gìn giữ và truyền bá Pháp. Luận văn nhấn mạnh sự liên kết giữa Phật, Pháp, Tăng. Tam Bảo tạo thành một Phật giáo hoàn chỉnh. Nghiên cứu giúp hiểu rõ toàn bộ hệ thống Phật học.

II. Phân tích vấn đề trong Luận văn cuối khóa cntt 42

Luận văn cuối khóa cntt 42 đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp. Một thách thức lớn là sự sai biệt trong sử liệu về lịch sử Đức Phật. Các nhà học giả ghi nhận niên đại khác nhau do quan niệm thời gian mơ hồ. Người Ấn Độ có lịch sử lâu đời nhưng ghi chép không nhất quán. Bia ký vua A-dục, Thiện Kiến Luật, Tỳ-bà-sa cung cấp dữ liệu đa dạng. Vấn đề khác là áp dụng giáo lý vào đời sống thực tế. Phật học không chỉ là thông thạo giáo lý. Điều quan trọng là thực hành ngay trong cuộc sống hàng ngày. Luận văn cần phân tích sâu các vấn đề này. Mục tiêu là tìm giải pháp phù hợp. Nghiên cứu phải dựa trên nguồn tin cậy và logic chặt chẽ.

2.1. Thách thức trong nghiên cứu lịch sử Phật

Nghiên cứu lịch sử Phật trong Luận văn cuối khóa cntt 42 gặp nhiều khó khăn. Sử liệu ghi chép khác nhau về ngày sinh diệt của Đức Phật. Lương Khải Siêu cho rằng người Ấn xem thường lịch sử. Quan niệm thời gian của họ rất mơ hồ. Tuy nhiên, lịch sử cho thấy người Ấn có quan niệm lịch sử sớm. Bia ký Asoka và kinh điển Nikàya là nguồn tài liệu quan trọng. Sự sai biệt có thể do lịch ghi của các nước thời cổ đại khác nhau. Luận văn cần đối chiếu các nguồn để tìm sự chính xác. Phân tích phê phán giúp hiểu rõ bối cảnh lịch sử.

2.2. Vấn đề áp dụng giáo lý vào đời sống

Áp dụng giáo lý Phật học vào đời sống là vấn đề then chốt trong Luận văn cuối khóa cntt 42. Thượng tọa Thích Chơn Thiện chỉ ra cách ứng dụng Tứ đế vào cá nhân, gia đình, xã hội. Giáo lý không chỉ để học thuộc mà phải thực hành. Phật học nhấn mạnh tính thực tiễn của Pháp. Người học cần áp dụng Giới, Định, Tuệ vào sinh hoạt hàng ngày. Điều này giúp loại trừ khổ đau, đạt an lạc. Luận văn phân tích các phương pháp thực hành. Ví dụ như thiền định, bố thí, trì giới. Mục tiêu là biến lý thuyết thành hành động cụ thể.

III. Giải pháp và phương pháp cho Luận văn cuối khóa cntt 42

Luận văn cuối khóa cntt 42 đề xuất các giải pháp và phương pháp nghiên cứu hiệu quả. Phương pháp chính là dựa trên Kinh Nikàya và A-hàm, kết hợp Kinh điển Bắc truyền. Nghiên cứu cần phân tích Tam Bảo một cách hệ thống. Giải pháp cho vấn đề lịch sử là đối chiếu nhiều nguồn tài liệu. Sử dụng bia ký, luật tạng, kinh điển để xác minh niên đại. Đối với áp dụng giáo lý, giải pháp là xây dựng lộ trình thực hành. Áp dụng Tứ đế vào đời sống qua các bước cụ thể. Giới luật Tăng đoàn là nền tảng cho sinh hoạt tu tập. Luận văn cũng khuyến khích nghiên cứu so sánh với các truyền thống khác. Phương pháp tiếp cận đa chiều giúp hiểu sâu Phật học.

3.1. Phương pháp nghiên cứu dựa trên Kinh điển

Phương pháp nghiên cứu cho Luận văn cuối khóa cntt 42 chủ yếu dựa trên Kinh điển. Kinh Nikàya và A-hàm là nguồn tài liệu chính, phản ánh giáo lý nguyên thủy. Một phần ý nghĩa được rút từ Kinh điển Bắc truyền để bổ sung. Phương pháp này giúp trình bày Phật học mạch lạc, rõ ràng. Nghiên cứu cần phân tích nội dung Tam Bảo qua các kinh văn. So sánh các bản dịch để hiểu chính xác. Luận văn áp dụng phương pháp phê phán văn bản. Mục tiêu là giới thiệu nội dung cơ bản và gợi ý hướng tư duy sâu sắc. Phương pháp này phù hợp với nhiều đối tượng độc giả.

3.2. Ứng dụng Tứ đế trong thực tế đời sống

Ứng dụng Tứ đế là giải pháp thực tiễn trong Luận văn cuối khóa cntt 42. Tứ đế gồm Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Áp dụng vào đời sống cá nhân giúp nhận diện khổ đau và nguyên nhân. Diệt đế chỉ ra trạng thái giải thoát. Đạo đế với Bát Chánh Đạo là con đường tu tập. Ứng dụng vào gia đình và xã hội mang lại an lạc, hạnh phúc. Luận văn nhấn mạnh thực hành Giới, Định, Tuệ. Giáo lý không chỉ lý thuyết mà phải đi đôi với hành động. Ví dụ như bố thí, trì giới, thiền định. Phương pháp này giúp người học hiểu rằng thực hành là then chốt.

IV. Kết luận và ứng dụng của Luận văn cuối khóa cntt 42

Luận văn cuối khóa cntt 42 đi đến kết luận quan trọng về Phật học. Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng là cốt lõi của Phật giáo. Nghiên cứu cho thấy tính thực tiễn của Pháp trong đời sống. Giáo lý Tứ đế, Thập nhị nhân duyên có giá trị ứng dụng cao. Phật học không chỉ là triết học mà là con đường giải thoát. Kết luận nhấn mạnh tầm quan trọng của thực hành. Ứng dụng của Phật học vào xã hội hiện đại rất đa dạng. Nó giúp con người đạt an lạc, hạnh phúc. Luận văn cũng gợi mở hướng nghiên cứu sâu hơn. Phật học có thể đóng góp vào sự phát triển tâm linh và đạo đức. Tác phẩm 'Phật Học Khái Luận' là tài liệu quý cho người học.

4.1. Ý nghĩa của việc thực hành Phật pháp

Thực hành Phật pháp có ý nghĩa lớn trong Luận văn cuối khóa cntt 42. Thực hành giúp chuyển hóa nội tâm, loại trừ tham, sân, si. Giới, Định, Tuệ là ba học phần cốt lõi. Giới luật xây dựng trên chánh trí và từ bi. Định giúp tâm an tịnh, Tuệ dẫn đến giác ngộ. Giải thoát và giải thoát tri kiến là kết quả cuối cùng. Luận văn nhấn mạnh thực hành ngay trong cuộc sống hàng ngày. Không chỉ thông thạo giáo lý mà phải áp dụng. Ví dụ như thiền tập, bố thí, phục vụ tha nhân. Thực hành đưa đến an lạc, hạnh phúc cho cá nhân và cộng đồng.

4.2. Ảnh hưởng của Phật học đến xã hội hiện đại

Phật học có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội hiện đại, theo Luận văn cuối khóa cntt 42. Giáo lý về từ bi, vô ngã, nghiệp báo giúp con người sống đạo đức hơn. Ứng dụng Tứ đế vào đời sống giảm thiểu khổ đau cá nhân. Phật học khuyến khích hòa bình, hài hòa trong cộng đồng. Tinh thần Tăng đoàn là mô hình cho sự hợp tác xã hội. Phật học cũng đóng góp vào lĩnh vực tâm lý học, y tế. Thiền định được áp dụng để giảm stress, tăng sức khỏe. Luận văn chỉ ra giá trị thực tiễn của Phật pháp. Nó có thể giải quyết các vấn đề xã hội đương đại. Phật học là nguồn cảm hứng cho sự phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phật Học Khái Luận LỜI GIỚI THIỆU Nói đến Phật giáo là nói đến Phật, Pháp, Tăng. Phật, Pháp, Tăng tổng hợp lại thành một Phật giáo hoàn chỉnh. Vì vậy, nếu hiểu rõ Phật, Pháp, Tăng là hiểu rõ toàn bộ Phật giáo. Thế nào là Phật? - Phật tâm, Phật tánh, Phật nguyện, Phật hạnh, Phật trí, Phật đức, Phật thân, Phật độ.

Thế nào là Pháp? - Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Vô ngã, Nhân quả, Nghiệp báo, Luân hồi, Lục độ, Thập độ, Pháp tướng. Thế nào là Tăng? - Chí nguyện của Tăng, Giới luật của Tăng, Sinh hoạt của Tăng, Bổn phận của Tăng. Cùng ý kiến trên, Thượng tọa Thích Chơn Thiện đã trình bày Phật học qua nội dung Tam Bảo trong tập sách này với ba chương lớn: Phật, Pháp, Tăng. Căn cứ trên các Kinh Nikàya và A-hàm với một phần ý nghĩa rút ra từ Kinh điển Bắc truyền, Thượng tọa đã trình bày Phật học một cách mạch lạc, rõ ràng, nhằm 3 Phật Học Khái Luận giới thiệu được nội dung cơ bản của Phật-học, đồng thời cũng gợi lên những đường hướng tư duy sâu sắc và đúng đắn để có thể phù hợp với nhiều đối tượng độc giả.

Một đặc điểm khác nữa của tác phẩm là nêu được tính thực tiễn của Pháp áp dụng vào các ngõ ngách chính yếu. Thượng tọa còn chỉ ra cách ứng dụng Tứ đế vào đời sống cá nhân, gia đình, xã hội, khiến người học giáo pháp hiểu rằng không phải chỉ thông thạo giáo lý là đủ mà điều quan trọng nhất là phải thực hành được ngay trong cuộc sống hàng ngày. Vốn là một giảng sư của trường Cao cấp Phật học Việt Nam và của nhiều khóa Phật học ở nhiều nơi trong nước, Thượng tọa Thích Chơn Thiện đã là soạn giả, dịch giả của nhiều tác phẩm Phật học có giá trị. Tôi nghĩ rằng cuốn "Phật Học Khái Luận" này phản ảnh một quá trình tu học nghiêm túc, một niềm tin tưởng sâu đậm đối với Phật giáo và một tấm lòng tha thiết khuyến tu đối với hết thảy mọi người; do đó, tôi trân trọng giới thiệu tác phẩm này cùng chư độc giả.

Từ Đàm, mùa An cư, PL. THÍCH THIỆN SIÊU 4 Phật Học Khái Luận Chương Một PHẬT BẢO  ……§…… Tiết I LƯỢC SỬ Đức Phật NHẬN XÉT VỀ SỬ LIỆU Có rất nhiều sử liệu ghi lại khác nhau về ngày, tháng, năm liên hệ đến các sự kiện lịch sử Đức Phật. Các nhà học giả Phật giáo và các nhà nghiên cứu Phật học đã nêu nhiều lý do về sự sai biệt đó. Chẳng hạn, Lương Khải Siêu trong tập “Phật học Nghiên cứu Thập bát thiên” cho rằng: “Vì người Ấn Ðộ xem thường lịch sử, vả lại, quan niệm thời gian của họ rất mơ hồ, nên những sách vở Ấn ngữ đối với niên đại sanh diệt của Đức Phật không một sách nào chép rõ ràng, minh xác”.Bản dịch của Nguyên Hồng, Phật Học Viện Nha Trang, ấn hành 1957 5 Phật Học Khái Luận Về điều này, không hẳn là người Ấn không có quan niệm rõ ràng về thời gian, hay không có quan niệm lịch sử rõ ràng.

Lịch sử cho thấy người Ấn có quan niệm lịch sử sớm nhất, đặc biệt là ở Phật giáo. Chúng ta có thể nhìn thấy nhiều sử liệu qua năm Nikàyas và bốn A-hàm (Agamas), qua bia ký của vua A-dục (Asoka), trong Thiện Kiến Luật, Tỳ-bà-sa, A-tỳ-đạt-ma v. Người viết nghĩ rằng sự sai khác về các niên đại lịch sử Đức Phật có thể là do các lý do đơn giản sau đây: - Lịch ghi của các nước thời xưa khác nhau, và các lịch ghi ấy lại khác hẳn với Tây lịch mà thế giới hôm nay đang dùng, nó cũng khác hẳn với âm lịch của Trung Hoa.- Thời Đức Phật tại thế, gồm cả kỳ kiết tập đầu tiên, các vị tu sĩ thiếu điều kiện ghi chép, chỉ trùng tuyên. Khi trùng tuyên, các vị đệ tử thường nhớ rõ nội dung giáo lý giải thoát mà khó nhớ đúng ngày, tháng của các sự kiện lịch sử, hoặc không chú ý ghi lại các ngày, tháng ấy.

Cũng có thể các sử liệu ghi lại đúng các ngày, tháng lịch sử, nhưng trải qua các thay đổi, chiến tranh, các thế kỷ truyền thừa v. các sử liệu ấy bị thất lạc, hoặc bị ghi chép sai lầm. - Có khi do sự tranh chấp ảnh huởng giữa các học phái mà ngày, tháng, năm ra đời của đấng Giáo chủ hay của hệ tư tưởng bị sửa lại khác đi, như trường hợp cạnh tranh ảnh hưởng Phật, Lão, Khổng ở Trung Hoa. - Cũng có thể có các tài liệu giả do ngoại đạo đánh 6 Phật Học Khái Luận tráo vào các tài liệu lịch sử của Phật giáo để phục vụ ý đồ của ngoại đạo.

- Cũng có thể do các lý do xã hội, chính trị của các thời đại, tài liệu bị ghi lại lệch đi, hoặc do sự ghi chép chủ quan và bị giới hạn của người biên khảo. - Cũng có thể sử liệu được ghi lại và được điều chỉnh theo quan niệm của bộ phái. Qua một số lý do vừa nêu, chúng ta không phải quá bận tâm đến sự chính xác của một số sự kiện lịch sử và các ngày, tháng, lịch sử của Đức Phật. Ðiều đáng ghi nhận nhất là hầu hết các sử liệu, gồm bia ký của vua A-dục, đều xác nhận Đức Phật là một nhân vật lịch sử, chứ không phải là một nhân vật thần thoại, dù được nhìn dưới cái nhìn của Bắc tạng hay Nam tạng.

Ở đây, người viết lược sử Đức Thế Tôn dựa trên kinh tạng Nikàya, kinh tạng A-hàm (Agama), bia ký của vua A-dục, tài liệu của kỳ đại hội Tổng Hội Phật giáo Thế giới họp lần II tại Tokyo năm 1952, với sự tham khảo thêm tài liệu Phật giáo của Edward J. BỒ TÁT TRƯỚC KHI NHẬP THAI Nam tạng và Bắc tạng nhìn khác nhau về Đức Phật, Thượng tọa bộ và Ðại chúng bộ cũng nhìn khác nhau về Ngài. 7 Phật Học Khái Luận Bắc tạng cho rằng Đức Phật đã thành Phật từ lâu, kiếp này chỉ là thị hiện. Nam tạng thì cho rằng kiếp này của Thế Tôn là kiếp cuối cùng thành Phật; kiếp trước đây, Ngài là Bồ Tát ở cung trời Ðâu-suất (Tusita) - cõi trời thứ tư trong sáu cõi trời Dục giới (Tứ thiên vương, Tam thập tam, Dạ-ma, Ðâu-suất.

Hóa lạc và Tha hóa tự tại). Cõi này có bốn ngàn tuổi thọ, tương đương với năm trăm bảy mươi sáu triệu năm của con người trên trái đất (theo kinh Ðại Bổn, Trường Bộ kinh III; kinh Hi Hữu Vị Tằng Hữu Pháp, Trung Bộ III; Vị Tăng Hữu Pháp, Trung A-hàm, số 32 đại I, 469c; và Kinh Tập, Tiểu Bộ kinh). Quan niệm của Bắc tạng thì tương tự với quan niệm tôn giáo của phần lớn các tôn giáo khác, thường có khuynh hướng siêu thực, Thánh hóa vị Giáo chủ. Thượng tọa bộ thì nhìn Đức Phật một cách hiện thực hơn, đi sát với các sự kiện lịch sử.

Nhưng cả hai Nam và Bắc tạng đều xác nhận: Trước khi thành Phật, Thế Tôn được gọi là một Bồ Tát ở Ðâu-suất. Cách nay chín mươi mốt kiếp (1 kiếp “kappa, kalpa”: bằng đời sống của một thế giới, bằng một ngày đêm của cõi trời Phạm thiên, bằng bốn ngàn ba trăm hai mươi triệu năm ở trái đất: theo Tự điển Sanskrit của Amarasimhakosa), Thế Tôn Tỳ-bà-thi (Vipassi) ra đời. Cách nay ba mươi mốt kiếp, Thế Tôn Thi-khí (Sikhi), Tỳ-xá-phù (Vessasbhù), Câu-lưu-tôn (Kakusandha), Câu- na-hàm (Konàgamana) và Thế tôn Ca-diếp (Kassapa) đã ra đời. Ở Ðâu-suất, Thế Tôn luôn luôn an trú trong chánh niệm tỉnh giác.

Một lần, một số chư Thiên ở Ðâu-suất và chư Thiên ở các cõi Sắc giới, “các vị Trời trước đây đã được Thế Tôn Tỳ-bà-thi giáo hóa - thuật lại cho Bồ Tát nghe về các sự kiện chư Thế Tôn trước đây đã ra đời và thỉnh cầu Bồ Tát xuống trần để hóa độ chúng sinh”. Nay là thời điểm của đức Thế Tôn. BỒ TÁT VÀO THAI MẸ (Theo kinh Hi Hữu Vị Tằng Hữu Pháp; Vị Tằng Hữu Pháp.) Khi hết tuổi thọ ở Ðâu-suất, Bồ tát chánh niệm tỉnh giác đi vào thai mẹ, Hoàng hậu Ma-da (Màyadevi) ở kinh thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu, Skt. Bấy giờ một hào quang kỳ diệu, thắng xa hào quang chư Thiên, thắng xa ánh sáng mặt trời, soi sáng khắp các cõi, khắp đến những nơi tối tăm mà ánh sáng mặt trời không thể soi thấu, mười nghìn thế giới rung động, chấn động mạnh Bồ tát ở trong thai mẹ như ở trong chiếc hộp kim cương trong sáng, có bốn Thiên tử canh gác bốn góc trời, không để cho loài Người hay khác loài Người xúc phạm đến thai nhi và Hoàng hậu.

Trong lúc mang thai, người mẹ hưởng đầy đủ năm dục công đức (sắc, thanh, hương, vị, xúc) và thấy rõ thai nhi như thấy rõ viên ngọc ở trong lòng bàn tay, với đầy đủ các bộ phận của cơ thể, rất hoàn mỹ. Thời gian mang thai là mười tháng. Trong thời gian này, tâm người mẹ 9 Phật Học Khái Luận thường hoan hỷ, không khởi lên dục ý với bất cứ người khác phái nào. NGÀY ĐẢN SANH (Theo kinh Ðại Bổn; Vị Tằng Hữu Pháp.) Theo truyền thuyết Phật giáo, mẹ của Bồ tát đứng mà sanh.

Hoàng hậu Ma-da sanh Hoàng tử nơi cội hoa Vô-Ưu, khi đang thưởng hoa ở vườn Ngự Lâm-tỳ-ni (Lumbini). Khi ra khỏi lòng mẹ, Thái tử oai nghiêm như một Pháp sư đang bước xuống Pháp tòa, sáng chói như một viên hồng ngọc, thanh tịnh, không dính một chất dơ nào từ lòng người mẹ, chân Thái tử không chạm đất, có bốn Thiên tử đỡ (rồi chuyển qua tay con người), đặt Thái tử trước Hoàng hậu và thưa: “Hoàng hậu hãy hoan hỷ. Hoàng hậu vừa sanh một vĩ nhân”. Từ hư không có một dòng nước ấm và một dòng nước mát tắm gội cho Thái tử và Hoàng hậu.

Thái tử đứng vững chân, mặt hướng về phương Bắc, buớc đi bảy bước (đây là bảy bước đi truyền thống của chư Phật), có lọng trắng che, nhìn khắp mọi phương, rồi cất tiếng nói với giọng êm ả như tiếng chim Ca-lăng-tần-già (sống ở Hi-mã), vừa trầm hùng như tiếng Ngưu vương, rằng: “Ta là bậc Tối thượng ở đời. Ta là bậc Tôn kính ở đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn sanh lại nữa”. Truyền thống kinh Bắc tạng và A-hàm (Kinh Ðại Bản Duyên) cho rằng Thái tử sanh ra từ hông bên hữu của Hoàng hậu, bước đi bảy bước, tay chỉ trời, tay chỉ đất mà nói rằng: “Trên trời và dưới đất chỉ có Ta là hơn cả”.

10 Phật Học Khái Luận Bấy giờ, một hào quang kỳ diệu. chiếu khắp mười nghìn thế giới, các thế giới đều chấn động, rung động. Ðại hội Phật giáo Thế giới họp kỳ II tại Tokyo (Nhật Bản), 1952, ghi ngày Phật đản sinh là ngày trăng tròn tháng Vesaskha của Ấn Ðộ, năm 624 trước Tây lịch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ