Chương 1 Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 về giao dịch điện tử trong lĩnh vực tài chính được sử dụng đê thực hiện thù tục hải quan điện từ Hệ thống khai hải quan điện từ là hệ thống cho phép người khai hải quan thực hiện việc khai hải quan điện tử, tiếp nhận thông tin, kết quả phản ánh của cơ quan hải quan trong quá trình thực hiện thù tục hải quan điện ữr Hệ thống xử lý dữ liệu điện ữr hải quan là hệ thống do Tông cục Hải quan quản lý cho phép cơ quan hải quan thực hiện thù tục hải quan điện tử, kết nối, trao đôi thông tin về hoạt động xuất khâu, nhập khâu với các Bộ, ngành có liên quan. Hải quan là một ngành có nhiệm vụ thực hiện kiêm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải, phòng, chống buôn lậu, vận chuyên trái phép hàng hóa qua biên giới, tô clnrc thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khâu, nhập khâu, kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý Nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khâu, nhập khâu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khâu, nhập khâu. Thông quan hàng hóa: là việc cơ quan cho phép hàng hóa đã hoàn thành các thủ tục hải quan cần thiết được xuất khâu, nhập khâu hoặc hoàn thành các thù tục hải quan và chuyên sang một chế độ quản lý hải quan khác 1 Giải phóng hàng: là việc cơ quan hải quan cho phép hàng hóa đang trong quá trình làm thủ tục thông quan được đặt dưới quyền quyết định cùa người khai hải quan. Đưa hàng hóa về bảo quản: là việc cơ quan hải quan cho phép hàng hóa đang trong quá trình làm thủ tục thông quan được đưa ra khỏi khu vực giám sát hải quan khi đã đáp írng các điều kiện về giám sát hải quan do Tông cục Hải quan quy định hoặc giao cho người khai hải quan tự bảo quản nguyên trạng hàng hóa chờ thông quan.
Hàng hóa đã qua khu vực giám sát hải quan: là hàng hóa xuất nhập khâu đã được đưa vào hoặc đưa ra khòi địa bàn hoạt động hải quan bao gồm các khu vực cửa khâu đường bộ, đường sắt quốc tế,cảng biên quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, cảng nội địa, kho ngoại quan, biru điện quốc tế. Vai trò của hải quan Cùng với sự phát triên cùa thế giới, lực lượng hải quan ngày càng trường thành, góp phần xứng đáng vào sự ôn định và phát triên kinh tế, đặc biệt là kinh tế đối ngoại trong điều kiện Việt Nam ngày càng hội nhập với thế giới. Kinh tế đối ngoại càng phát triên bao nhiêu, thì vai trò và trách nhiệm của lực lượng hải quan càng to lớn, nặng nề bấy nhiêu. Một mặt, hải quan phải tạo mọi điều kiện thuận lại cho thương mại quốc tế và các mối quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế phát triên.Mặt khác, lực lượng hải quan phải kiên quyết ngăn chặn hiện ưrợng buôn lậu, gian lận thương mại, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, bảo vệ lợi ích chù quyền kinh tế và an ninh quốc gia.
Là “người gác cữa nền kinh tế đất nước”, là lực lượng biên phòng trên mặt trận kinh tế, vai trò cùa hải quan không chi giới hạn trong lĩnh vực kinh tế, mà còn mở rộng trong các lĩnh vực có liên quan, ở bất kỳ quốc gia nào trên thể giới, lực lượng hải quan cũng là một trong những công cụ cùa Nhà nước đê bảo vệ lợi ích chù quyền kinh tế và an ninh quốc gia, bảo hộ và thúc đây sản xuất trong nước phát triển, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và đảm bảo nguồn thu ngân sách. Nhiệm vụ chính trị cùa ngành hải quan vừa mang tính chất kinh tế vừa mang tính chất an ninh quốc gia, chùng có mối quan hệ mật thiết, gắn bó và đan xen với nhau. Tùy theo đặc diêm lịch sử, kinh tế xã hội của mỗi nước, mỗi khu vực, trong từng giai 2 đoạn phát triển mà chírc năng, nhiệm vụ của hải quan có thê có những điêm khác nhau, nhưng hầu hết các nước đều giống nhau về Iihững nhiệm vụ cơ bản. ơ Việt Nam, cùng với sự phát triên kinh tế mrớc nhà, vai trò, clứrc năng, nhiệm vụ của ngành hải quan ngày càng được nhận thức một cách đầy đù, sâu sắc, phù hợp với quy luật vận động và phát triên cùa nền kinh tế.
Hải quan Việt Nam từ chỗ là công cụ của Nhà nước nhằm thực hiện chính sách Nhà nước độc quyền ngoại thương, đến chỗ hải quan bảo đảm thực hiện chính sách Nhà nước về phát triên quan hệ kinh tế, văn hóa với nước ngoài, thực hiện chírc năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khâu trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. Ngoài ra, hải quan còn thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu và gian lận thương mại, nhiệm vụ tô chức thu thuế xuất nhập khâu là một trong những nhiệm vụ quan trọng cùa hải quan nhằm góp phần bảo vệ lợi ích chù quyền kinh tế và an ninh quốc gia. Hải quan không chi hoạt động ở cửa khâu biên giới mà hoạt động dọc biên giới, cả trong nội địa, ờ tất cả các nơi có nhu cầu làm thủ tục kiêm tra, giám sát, kiêm soát hàng hóa xuất nhập khâu, không chi phối hợp với lực lượng trong nước mà còn phải hợp tác chặt chẽ với các tô chức hải quan quốc tế và khu vực. “Là tấm màng ngăn đặc biệt” lực lượng hải quan có vai trò rất to lớn trong điều kiện hội nhập.
Hải quan, một mặt, tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng cho thương mại, giao lưu quốc tế phát triển, kịp thời đón nhận những cơ hội giúp đất nước phát triển hùng cường. Mặt khác, ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực (buôn lậu, gian lận thương mại.) giúp nền kinh tế phát triên lành mạnh, hiệu quả. Bên cạnh đó, lực lượng hải quan còn là bộ mặt của đất nước, một trong những người đầu tiên mà khách nước ngoài tiếp xúc là công chức hải quan. Thủ tục hải quan thuận lợi, nhanh chóng, công chức hải quan văn minh, lịch sự, nghiêm túc, sẽ tạo ấn tượng tốt, giúp thu hút được nhiều khách nước ngoài đen làm ăn, du lịch, đem lại lợi ích cho quốc gia.
Sơ lược về quá trình hình thành và phát triên của thủ tục hải quan điện tử. Thủ tục hải quan có thê thực hiện bằng những cách thức, phương tiện khác nhau. Ví dụ: truyền thống (thủ công), bán truyền thống hoặc điện ữr. Tnrớc đây, ờ Việt Nam, thủ tục hải quan chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp truyền thống (hoàn toàn dựa vào hồ sơ giấy) hoặc bán truyền thống - kết hợp giữa truyền thống và điện ữr (khai báo bằng đĩa mềm, khai báo qua mạng internet kết hợp hồ sơ giấy).
Trong phương pháp này, luôn có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người khai hải quan và công chức hải quan trong quá trình làm thù tục hải quan và sử dụng hồ sơ giấy. Hiện nay, ngoài phương pháp truyền thống, bán truyền thống, thủ tục hải quan còn được thực hiện hoàn toàn bằng phương tiện điện tử (hệ thống xử lý dừ liệu điện ữr). Theo thủ tục truyền thống, doanh nghiệp muốn nhập hoặc xuất một lô hàng thì phải đến hải quan mua bộ hồ sơ (bằng giấy), khai các mặt hàng vào các tờ khai rồi đem nộp cho công chức hải quan. Sau khi dùng các biện pháp nghiệp vụ (nhập dĩr liệu vào máy tính, phân luồng hàng hóa, kiêm hóa, áp thuế.), công chức hải quan trả hồ sơ cho doanh nghiệp đê đi làm hàng.
Thường công đoạn này phải mất hơn một giờ đồng hồ, tùy thuộc vào mặt hàng. Neu hàng ở luồng xanh, doanh nghiệp được làm hàng ngày, còn hàng ở luồng vàng - đỏ thì phải kiêm tra xác suất theo phần trăm do lãnh đạo chi cục quyết định. Cách làm này cả hải quan và doanh nghiệp đều phải vất vả từ khâu khai báo đến kiêm tra cho thông quan hàng hóa Sau một thời gian chuân bị, thừ nghiệm, hiện nay, người khai hải quan có thê đăng ký hồ sơ làm thủ ựic hải quan bằng cách tạo, gửi các thông tin dưới dạng điện từ đến cơ quan hải quan và nhận các thông tin (cũng dưới dạng điện từ) phản hồi từ phía cơ quan hải quan thông qua hệ thống xữ lý dữ liệu điện tử. Công chức hải quan tiếp nhận, kiêm tra hồ sơ do doanh nghiệp gửi đến và thông báo kết quả xử lý hồ sơ cho doanh nghiệp cũng thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện ữr.
Trong việc làm thủ tục hải quan, người khai hải quan và công chức hải quan không có sự tiếp xúc trực tiếp (trừ một số trường hợp ngoại lệ). 4 Thủ tục hải quan điện tỉr về cơ bản các nước giống nhau. Tuy nhiên, tùy theo tình hình mỗi nước việc áp dụng có khác nhau về quy mô, mức độ và hình thức. Đối với Việt Nam, việc thực hiện thù tục hải quan điện tít là việc làm rất cần thiết do yêu cầu thực hiện khối lượng công việc ngày càng tăng, yêu cầu phục vụ cho sự phát triển của thương mại điện từ, yêu cầu hội nhập và xu hướng phát triên của hải quan thế giới,yêu cầu quản lý của Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và yêu cầu nhiệm vụ của ngành hải quan.
Mô hình HQĐT các mrớc đều có diêm giống nhau là gồm có ít nhất 3 thành phần tham gia vào quy trình. Đó là cơ quan hải quan, cơ quan truyền nhận dữ liệu (VAN) và doanh nghiệp. Đối với những mrớc phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, vai trò của đại lý hải quan được chú trọng và phát triên đến mức độ chuyên nghiệp. Thông qua các đại lý hải quan, cơ quan hải quan có thê quản lý doanh nghiệp một cách hiệu quả.
Điêm khác biệt gii'ra các nước là nứrc độ áp dụng thủ tục hải quan điện tử.