CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 1. Cơ sở lý luận về kiểm tra sau thông quan 1. Khái niệm kiểm tra sau thông quan Từ điển Tiếng Việt, 2008, định nghĩa “kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”, “thông quan là thông qua các thủ tục hải quan và được phép XNK qua cửa khẩu (thường nói về hàng hóa)”. Như vậy, kiểm tra sau thông quan có thể hiểu là việc xem xét tình hình thực tế để đưa ra các đánh giá, nhận xét sau khi hàng hóa đã được thông qua các thủ tục hải quan và được phép XNK qua cửa khẩu.
Công ước Kyoto Sửa đổi, 1999: “Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp được cơ quan hải quan tiến hành nhằm thoả mãn mục đích của họ trong việc xác định tính chính xác và trung thực của các tờ khai hàng hoá thông qua kiểm tra các chứng từ, biên bản, hệ thống kinh tế và dữ liệu thương mại của các bên liên quan.” Tổ chức Hải quan Thế giới, định nghĩa “kiểm tra sau thông quan là quy trình nghiệp vụ cho phép các viên chức hải quan kiểm tra tính chính xác của hoạt động khai hải quan bằng việc kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ghi chép về kế toán và thương mại liên quan đến hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hoá và tất cả các số liệu, thông tin, bằng chứng khác mà hiện tại đang được các đối tượng kiểm tra (cá nhân hoặc doanh nghiệp) trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động buôn bán quốc tế nắm giữ.” Theo Tổ chức Hải quan ASEAN: “kiểm tra sau thông quan là một biện pháp kiểm soát hải quan có hệ thống mà cơ quan hải quan thoả mãn về độ chính xác và trung thực của việc khai báo hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên quan, hệ thống kinh doanh, dữ liệu thương mại của cá nhân, các công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào thương mại quốc tế” Quy định của Việt Nam, tại Khoản 1, Điều 77, Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014, quy định Kiểm tra sau thông quan: “là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán 7 và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan ”. Như vậy, các khái niệm đều chỉ ra kiểm tra sau thông quan là hoạt động nghiệp vụ của cơ quan hải quan. Đó là phương pháp kiểm tra ngược, diễn ra đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan ; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan. Khái niệm KTSTQ của Tổ chức Hải quan thế giới và của Tổ chức Hải quan ASEAN có khác nhau về câu chữ nhưng nội hàm hoàn toàn giống nhau.
Hai khái niệm này có tính “toàn vẹn” hơn so với khái niệm của Luật Hải quan của Việt Nam, đã chỉ rõ đối tượng kiểm tra là các chứng từ, biên bản và cả hệ thống kinh tế, dữ liệu thương mại; là cá nhân, công ty trực tiếp XK, NK và cả các cá nhân, công ty gián tiếp tham gia vào thương mại quốc tế như: công ty bảo hiểm, công ty vận tải, người mua hàng trong nước… đặc biệt nêu ra thuật ngữ “cơ quan hải quan thoả mãn về độ chính xác và trung thực” rất hay, thoạt nghe có vẻ không ổn, nhưng thực ra là rất chặt chẽ và chính xác. Bởi vì khó có vấn đề gì là tuyệt đối mà chủ yếu chỉ mang tính tương đối. “Thỏa mãn” ở đây có thể được hiểu là Cơ quan hải quan đã dùng mọi biện pháp nghiệp vụ để kiểm tra, đối chiếu. nhưng không phát hiện ra sai sót, gian lận (có thể có gian lận nhưng chưa thể phát hiện được), điều này cũng phù hợp với kỹ thuật quản lý rủi ro.
Theo quan điểm của tác giả, khái niện kiểm tra sau thông quan của Tổ chức hải quan ASEAN là thuyết phục nhất. Khái niệm kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam rõ ràng là rất “cầu toàn”, nghĩa là luôn phải khẳng định được “tính chính xác, trung thực” của các nội dung khai báo của người khai hải quan. Đặc điểm của hoạt động kiểm tra sau thông quan Một là, KTSTQ cùng thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về mặt Hải quan với các đơn vị chức năng khác của Hải quan, ví dụ, đơn vị thông quan, đơn vị kiểm soát và các đơn vị khác. Kiểm tra sau thông quan không phải là một hệ thống độc lập mà là một chức năng của tổ chức Hải quan [11].
Hai là, KTSTQ là một phương pháp kiểm tra của các cán bộ Hải quan. Ở cấp độ pháp lý thích hợp, cần đưa ra các quy định cần thiết để thực hiện kiểm tra sau thông quan, bao gồm cả thẩm quyền của cán bộ, thủ tục, hình phạt. để đảm bảo thực thi kiểm tra sau thông quan có hiệu quả. Thông qua quy trình kiểm tra sau thông quan, các cán bộ Hải quan tiếp cận, hợp tác với các cá nhân đang bị kiểm tra (người bị kiểm tra) và tiến hành kiểm tra sau thông quan với sự hợp tác và đồng ý của họ.
Ba là, KTSTQ là phương pháp kiểm tra, diễn ra sau khi giải phóng hàng. KTSTQ sẽ đạt được hiệu quả đáng kể khi được thực hiện đối với những cá nhân, công ty tiến hành khai báo Hải quan liên tục trong một thời gian nhất định, dựa trên cơ sở phân tích trước hồ sơ lưu trữ của họ. Mặt khác, phương pháp này sẽ không có hiệu quả nếu được áp dụng cho những đối tượng tiến hành nhập khẩu, xuất khẩu số lượng nhỏ hàng hóa hoặc có số thuế phải nộp thấp. Bốn là, KTSTQ được tiến hành để xác định xem các nội dung khai Hải quan có tuân thủ các yêu cầu của pháp luật Hải quan và các quy định khác có liên quan hay không.
Đây là đối tượng chính của kiểm tra sau thông quan, đòi hỏi các cán bộ Hải quan phải tinh thông về nghiệp vụ Hải quan và nghiệp vụ xuất nhập khẩu. Ngoài ra, cơ quan Hải quan cần tiến hành các biện pháp toàn diện nhằm khuyến khích các nhà nhập khẩu, xuất khẩu hoặc bất kỳ đối tượng khai Hải quan nào tuân thủ các quy định pháp luật Hải quan thông qua phần tự khai báo. Năm là, KTSTQ thực hiện các biện pháp kiểm tra theo tất cả các thông tin liên quan, bao gồm cả dữ liệu điện tử, do các cá nhân, công ty có liên quan cung cấp nhằm thực hiện mục tiêu trên. Cán bộ KTSTQ tập hợp các bằng chứng thu thập từ các nguồn thông tin, đánh giá chúng trên cơ sở quy định pháp luật Hải quan và sau đó xác định xem nội dung khai báo có đáp ứng yêu cầu QLNN về Hải quan hay không.
9 Sáu là, KTSTQ không chỉ hướng vào đối tượng khai báo mà cả các cá nhân, công ty khác liên quan đến thương mại quốc tế. Bảy là, KTSTQ được thực hiện với sự cộng tác chặt chẽ giữa cơ quan Hải quan và đối tượng kiểm tra. Không giống như các công tác nghiệp vụ quen thuộc trước, KTSTQ là khâu nghiệp vụ mới, nên các công chức Hải quan làm lĩnh vực này phải phát huy cao độ tính năng động của mình để có thể tiếp cận và sàng lọc các nguồn thông tin khác nhau, nhằm phát hiện ra các hành vi, hiện tượng, dấu hiệu nghi vấn. Từ những chi tiết bất thường thể hiện trên hồ sơ khai báo, sự biến động giá cả hàng hóa trên thị trường cho đến những dấu hiệu xuất, nhập hàng hóa không ổn định, người cán bộ kiểm tra sau thông quan đều phải lưu ý tới.
Vai trò, mục đích của kiểm tra sau thông quan 1. Vai trò của kiểm tra sau thông quan - Nâng cao năng lực quản lý; - Đảm bảo tuân thủ pháp luật; - Tăng thu thuế, giảm thiểu chi phí và rủi ro; - Tác động tích cực trở lại với hệ thống quản lý của cơ quan hải quan thông qua việc nhận biết và xử lý các rủi ro tiềm ẩn của hệ thống; - Mở rộng phạm vi kiểm tra; - Là công cụ hiệu quả đối với công tác kiểm tra, giám sát của hải quan; - Góp phần đơn giản hóa trong giám sát, quản lý hải quan. Mục đích của kiểm tra sau thông quan - Thẩm định tính chính xác, trung thực của các nội dung khai báo về đối tượng quản lý của cơ quan hải quan; - Đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật hải quan của người khai hải quan; - Kiểm tra một cách có hệ thống các hoạt động gian lận thương mại; - Tạo thuận lợi cho việc lưu chuyển hàng hóa XK, NK, bảo vệ nguồn thu cho ngân sách nhà nước; - Khai thác bố trí, sắp xếp nhân lực, phương tiện kiểm tra hải quan hiệu quả. 10 Kiểm tra sau thông quan là một nhiệm vụ của cơ quan hải quan được quy định tại Luật Hải quan.
Mặt khác, việc kiểm tra, giám sát hải quan phải áp dụng phương pháp quản lý rủi ro, dẫn đến việc phải chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, nghĩa là thông quan trước, sẽ kiểm tra sau, nhưng sẽ không kiểm tra tràn lan mà kiểm tra trọng tâm, trọng điểm trên cơ sở quản lý rủi ro. Trong quá trình hội nhập, Việt Nam phải thực hiện các điều ước, cam kết quốc tế về tự do thương mại đã tham gia như: WTO, ASEAN, APEC, trong khi đó khả năng kiểm soát của Hải quan tại khâu thông quan còn hạn cả về nhân lực, vật lực nhưng lưu lượng kim ngạch hàng hoá XNK ngày càng tăng. Hoạt động kiểm tra sau thông quan là một khâu trong quy trình nghiệp vụ của cơ quan Hải quan nhằm kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan. kiểm tra sau thông quan là khâu cuối cùng của quy trình nghiệp vụ đó.