CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH DOANH NGHIỆP 1. Bản chất và vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 1. Bản chất của cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 1. Khái niệm và bản chất của cạnh tranh Ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế xã hội khái niệm về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới những góc độ khác nhau.
Dưới thời kỳ Chủ nghĩa tư bản phát triển vượt bậc Mác đã quan niệm: “Cạnh tranh chủ nghĩa tư bản là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1990, trang 235): “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, giữa các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. Trên góc độ đối tượng kinh tế chính trị: “Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, tiêu thụ hàng hóa có lợi nhất”. Quan điểm của Michael Porter (1980) được trích dẫn trong Competitive Advantage.
Theo đó, cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Theo quan điểm của Karl Marx về lý luận cạnh tranh được trích dẫn trong “Theories of surplus value VI.3 Karl Marx” (1862-1863) cho rằng khi nghiên cứu sự hình thành lợi nhuận bình quân và sự chuyển hoá giá trị hàng hóa thành giá trị thị trường và giá cả sản xuất, ông cũng đã đề cập cạnh tranh gắn bó với quan hệ cung cầu của hàng hóa.
Karl Marx đã chia cạnh tranh thành cạnh tranh 5 trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành với nhau; cạnh tranh giữa các người bán với nhau khi mà cung lớn hơn cầu và cạnh tranh giữa những người mua với nhau khi mà cầu lớn hơn cung. Như vậy, cạnh tranh là một phương thức vận động của thị trường và quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật quan trọng nhất chi phối sự hoạt động của thị trường. Theo lý thuyết tổ chức doanh nghiệp công nghiệp thì một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh và đánh giá nó có thể đứng vững cùng với các nhà sản xuất khác, với các sản phẩm thay thế, hoặc bằng cách đưa ra các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn cho sản phẩm cùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm có cùng đặc tính nhưng với dịch vụ ngang bằng hay cao hơn. Một cách khái quát hơn, cạnh tranh hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. Sự ra đời và phát triển của cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường mà tất cả các chủ thể tham gia vào nền kinh tế đều phải tuân theo quy luật đó. Khái niệm và bản chất của năng lực cạnh tranh Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh với nhau để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể, được gọi là năng lực cạnh trạnh.
“Năng lực cạnh tranh còn gọi là sức cạnh tranh, là khả năng tập hợp đầy đủ các nguồn lực, lợi thế của mình và được vận dụng phát huy tối đa các nguồn lực, lợi thế đó nhằm mang lại hiệu quả cao thực hiện những mục tiêu nhất định so với các điều kiện chung, giống nhau với các đối tượng khác”. Từ lý thuyết trên về cạnh tranh ta có thể suy ra bản chất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng, năng lực mà doanh nghiệp đó có thể duy trì vị trí của nó trên thị trường cạnh tranh một cách lâu dài. Các doanh nghiệp tồn tại trong thị trường cạnh tranh phải có những vị trí nhất định. Đây là điều kiện duy nhất duy trì sự 6 tồn tại của doanh nghiệp trong thị trường.
Để tồn tại, doanh nghiệp luôn phải vận động, thích nghi, vượt trội hơn đối thủ. Năng lực cạnh tranh thường được chia làm 4 cấp độ: + Năng lực cạnh tranh quốc gia Báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu định nghĩa: Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao xác định sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người theo thời gian. Ở cấp độ quốc gia, khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh có ý nghĩa là nâng cao năng suất sản xuất quốc gia. Năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào năng suất sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên về vốn của một quốc gia, bởi chính năng suất xác định mức sống bền vững thể hiện qua mức lương, tỉ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỉ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên.
Năng lực cạnh tranh không phải là việc một quốc gia cạnh tranh trong lĩnh vực gì để thịnh vượng mà là quốc gia đó cạnh tranh hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực. + Năng lực cạnh tranh ngành: cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn. + Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. + Năng lực cạnh tranh sản phẩm Lí thuyết thương mại truyền thống đã xem xét năng lực cạnh tranh của một sản phẩm thông qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất so với đối thủ cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm cụ thể trên thị trường. Cạnh tranh sản phẩm thể hiện những lợi thế của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh. - Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh 7 + Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp. + Nguồn lực, nguồn vốn và trình độ công nghệ của doanh nghiệp.
+ Năng lực cạnh tranh của sản phẩm. + Khả năng liên kết và hợp tác với doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tế quốc tế. + Năng suất sản xuất kinh doanh. + Uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp.
- Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp + Lợi nhuận của doanh nghiệp: Lợi nhuận chính là phần mà doanh nghiệp thu lại được từ doanh thu sau khi trừ hết đi các khoản chi phí như mặt bằng, lương nhân công, thuế doanh nghiệp.dùng vào hoạt động kinh doanh của mình. Lợi nhuận là 1 chỉ tiêu dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, doanh nghiệp nào càng vững chắc hoặc có thị phần cao thì phần lớn doanh nghiệp đó có doanh thu và lợi nhuận tốt và cũng căn cứ vào lợi nhuận mà doanh nghiệp biết được khả năng cạnh tranh của mình so với đối thủ trên thị trường. Lợi nhuận của doanh nghiệp được tính theo công thức sau: LN= ∑ 𝐷𝑇- ∑ 𝐶𝑃 Trong đó: LN: Lợi nhuận của doanh nghiệp. ∑ 𝐷𝑇: Tổng doanh thu của doanh nghiệp.
∑ 𝐶𝑃 : Chi phí của doanh nghiệp. + Tỷ suất trên lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh khả năng của doanh nghiệp và cũng thể hiện tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ta xem xét các chỉ tiêu cụ thể: - Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu (P1): Tổng lợi nhuận P1 = Tổng doanh thu100% 8 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu cho biết cứ bán được 100 đồng doanh thu thì doanh nghiệp được bao nhiêu đồng lợi nhuận. - Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí kinh doanh (P2): Tổng lợi nhuận P2 = Tổng chi phí kinh doanh100% Chỉ tiêu này cho biết cứ chi phí 100 đồng vào kinh doanh thì doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
- Tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh (P3): Tổng lợi nhuận P3 = Tổng vốn kinh doanh100% Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh cho biết khi doanh nghiệp đầu tư 100 đồng vốn vào kinh doanh thì thu lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phản ánh phần trăm lợi nhuận trong tổng số doanh thu của công ty trong một kì nhất định mà ta muốn nghiên cứu. Tỷ số này mang giá trị dương thì có nghĩa là doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi, tỷ số càng lớn có nghĩa là độ thu hồi lãi tốt. Còn tỷ số này mang giá trị âm thì có nghĩa là doanh nghiệp đang kinh doanh thua lỗ hoặc lãng phí nguồn lực.
Khái niệm và bản chất của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Thuật ngữ “ Nâng cao năng lực cạnh tranh” được sử dụng một các rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, đó là việc tìm ra những biện pháp tác động vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có tính vượt trội so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho tính trội của nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ.