phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả tín dụng của ngân hàng hợp tác xã Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng của Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng của Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam 3 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ 1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ 1. Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc tổ chức hoạt động và đặc trưng của ngân hàng hợp tác xã 1. Khái niệm ngân hàng hợp tác xã Ngay từ tên gọi “Ngân hàng hợp tác xã” đã cho thấy một đặc thù của Tổ chức này, đó là Ngân hàng vừa hoạt động dƣới sự điều chỉnh của luật các tổ chức tín dụng, vừa đƣợc điều chỉnh bởi luật hợp tác xã.
“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân” (Khoản 1, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng). “Tổ chức tín dụng là hợp tác xã là loại hình tổ chức tín dụng đƣợc tổ chức theo mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhằm mục đích chủ yếu là tƣơng trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Tổ chức tín dụng là hợp tác xã gồm ngân hàng Hợp tác xã, Quỹ tín dụng nhân dân” (Điều 73, Luật các tổ chức tín dụng).
Ngân hàng Hợp tác xã là một Tổ chức tín dụng hợp tác nhằm tƣơng trợ và tăng cƣờng hiệu quả cho hoạt động của hệ thống các Quỹ tín dụng nhân dân; làm đầu mối và giữ vai trò điều hòa vốn cho hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân. Ngày nay, mô hình ngân hàng hợp tác xã đã xuất hiện ở trên 150 nƣớc trên thế giới với nhiều tên gọi khác nhau ở Cộng hoà liên bang Đức đƣợc gọi chung là các ngân hàng hợp tác xã, trong đó vùng đô thị gọi là các ngân hàng nhân dân, còn ở vùng nông thôn gọi là các ngân hàng Raifeisen, ở Philipin là các Hợp tác xã tín dụng, ở Canada là Quỹ tín dụng Desjardins, ở Việt Nam gọi là các Ngân hàng hợp tác xã gồm có Ngân hàng Hợp tác xã và các Quý tín dụng nhân dân… Tuy khác nhau về tên gọi nhƣng điểm xuất phát hình thành, nguyên tắc, cơ cấu tổ chức và 4 hoạt động của chúng đều cơ bản giống nhau. Các ngân hàng hợp tác xã đều mang những đặc thù vốn có của riêng nó, gắn với những thế mạnh và những điểm bất lợi của nó. Để phát huy thế mạnh và cân bằng những điểm bất lợi nhằm duy trì và phát triển an toàn bền vững, các ngân hàng hợp tác xã phải liên kết lại với nhau cùng xây dựng cho mình những tổ chức hỗ trợ riêng.
Tại nƣớc có lịch sử phát triển lâu đời, các tổ chức tín dụng có mặt khắp mọi nơi từ nông thôn đến đô thị để cung cấp các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ khác cho thành viên và khách hàng các ngân hàng hợp tác xã đã tạo ra một hệ thống liên kết hoàn chỉnh gồm nhiều các tổ chức liên kết hỗ trợ khác nhƣ: Các ngân hàng hợp tác xã đầu mối thực hiện chức năng chính là điều hoà vốn và cung cấp các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho hệ thống; Các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ tài chính nhƣ dịch vụ về bảo hiểm, thuê mua tài chính, thế chấp bất động sản, tiết kiệm xây dựng, liên minh đầu tƣ… ; Các tổ chức hiệp hội, liên minh thực hiện chức năng đại diện quyền lợi cho các ngân hàng hợp tác xã; Tổ chức an toàn để hỗ trợ cho các ngân hàng hợp tác xã khi gặp khó khăn về tài chính có nguy cơ dẫn đến phá sản; Tổ chức kiểm toán thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, tƣ vấn cho các ngân hàng hợp tác xã; Tổ chức cung cấp dịch vụ đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao trình độ cho các cán bộ của ngân hàng hợp tác xã. Trong quá trình phát triển, cùng với sự quan tâm của Nhà nƣớc, các ngân hàng hợp tác xã đã phát huy đƣợc tiềm năng phát triển to lớn của nó, đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Mục tiêu hoạt động của ngân hàng hợp tác xã Theo Điều 6, Thông tƣ số 31/2012/TT-NHNN, Ngân hàng hợp tác xã là loại hình tổ chức tín dụng đƣợc tổ chức theo mô hình hợp tác xã với mục tiêu chủ yếu là liên kết, bảo đảm an toàn của hệ thống thông qua việc hỗ trợ tài chính và giám sát hoạt động trong hệ thống quỹ tín dụng nhân dân. Hoạt động chủ yếu là điều hòa vốn và thực hiện các hoạt động ngân hàng đối với thành viên là các quỹ tín dụng nhân dân.
Ngân hàng hợp tác xã là loại hình tổ chức tín dụng đƣợc tổ chức theo mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng do đó mục tiêu hoạt động chính 5 của ngân hàng hợp tác xã là hỗ trợ thành viên về các dịch vụ tín dụng, ngân hàng. Các thành viên của ngân hàng hợp tác xã cùng nhau thành lập hoặc tham gia góp vốn vào NHHTX nhằm nhận đƣợc sự hỗ trợ các sản phẩm ngân hàng nhƣ huy động vốn, cho vay và các dịch vụ thanh toán một cách thuận tiện hơn. NHHTX hoạt động định hƣớng theo thành viên. Để đạt đƣợc mục tiêu chính là hỗ trợ thành viên, các NHHTX phải tạo ra đƣợc các sản phẩm ngân hàng và đƣa các sản phẩm này đến với thành viên.
Đây là mục tiêu quan trọng nhất của NHHTX và là điểm khác biệt căn bản của NHHTX dƣới tƣ cách pháp nhân HTX so với các tổ chức kinh tế dƣới các tƣ cách pháp nhân khác. Trong khi thành viên hay chủ sở hữu, cổ đông của các tổ chức kinh tế khác thành lập doanh nghiệp trong một lĩnh vực nhất định trƣớc tiên là để tìm cách thu về lợi nhuận tối đa cho họ thì dƣới hình thức là hợp tác xã, các NHHTX đƣợc các thành viên xây dựng để trƣớc tiên cung cấp dịch vụ tín dụng, ngân hàng cho họ chứ không phải trƣớc tiên là tìm cách thu đƣợc nhiều cổ tức, mặc dù họ cũng là chủ sở hữu. NHHTX không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nhƣ đối với các công ty mà theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi ích thành viên. Điều này thể hiện ở việc thỏa mãn đồng thời nhƣng trƣớc hết là các nhu cầu của thành viên với tƣ cách là khách hàng- ngƣời sử dụng các dịch vụ của NHHTX và sau đó mới đến nhu cầu của thành viên với tƣ cách là chủ sở hữu- ngƣời góp vốn xây dựng NHHTX.
Một NHHTX sẽ hoàn thành đƣợc mục tiêu hỗ trợ thành viên nếu nó tạo ra đƣợc các dịch vụ tín dụng, ngân hàng, đƣa đƣợc các dịch vụ này đến cho các thành viên và đảm bảo đƣợc hoạt động cho bản thân để luôn có thể hỗ trợ cho thành viên một cách lâu dài. Để thực hiện đƣợc điều này, các NHHTX cần định hƣớng thực hiện 3 mục tiêu cụ thể sau: Hoạt động phải luôn đảm bảo khả năng chi trả, hoạt động phải an toàn và hoạt động phải sinh lời. NHHTX hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận tối đa, lợi nhuận không bao giờ là mục tiêu quan trọng nhất của một NHHTX nhƣng chúng lại là phƣơng tiện để NHHTX đạt đƣợc mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ thành viên. Thật vậy, lợi nhuận dùng để bù đắp chi phí nhằm duy trì hoạt động cho NHHTX, duy trì việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ thành viên.
Lợi nhuận dùng để chia cổ tức, đảm bảo lợi ích cho các thành viên góp vốn. Lợi nhuận dùng để phục 6 vụ cho việc tích lũy, tăng trƣởng và phát triển NHHTX nhƣ trích lập các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ phát triển nghiệp vụ…Lợi nhuận còn dùng để phòng ngừa rủi ro để đảm bảo cho NHHTX hoạt động an toàn về lâu dài nhƣ trích lập các quỹ dự phòng tài chính, dự phòng rủi ro…Nhƣ vậy để đảm bảo mục tiêu hỗ trợ thành viên, NHHTX hoạt động phải sinh lời. Nguyên tắc tổ chức hoạt động của ngân hàng hợp tác xã Tại Điều 7, Luật Hợp tác xã năm 2012 quy định rõ nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hợp tác xã. Theo đó, Ngân hàng hợp tác xã đƣợc thành lập và hoạt động dƣới hình thức hợp tác xã dựa trên các nguyên tắc cơ bản là tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động.
Nguyên tắc tự nguyện Là nguyên tắc cơ bản của NHHTX. Việc các cá nhân, tổ chức gia nhập và rút ra NHHTX là hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện khi họ thấy việc gia nhập hoặc rút ra khỏi tổ chức là có lợi cho họ. Các tổ chức, cá nhân này, sau khi đƣợc tuyên truyền, giải thích rõ những lợi ích, quyền lợi và nghĩa vụ của họ khi gia nhập NHHTX sẽ tự quyết định về việc có gia nhập hay có xin rút khỏi NHHTX hay không. Nguyên tắc tự chủ Nghĩa là các thành viên đƣợc tự mình toàn quyền quản lý, quyết định các vấn đề của NHHTX trong khuôn khổ và theo các quy định của pháp luật mà không chịu bất kỳ sự chi phối, can thiệp hay chỉ đạo nào từ bên ngoài kể cả các cơ quan Nhà nƣớc.
Các thành viên tham gia NHHTX thực hiện tự quản lý thông qua việc tham gia vào các cơ quan quyền lực cao nhất của NHHTX, đó là đại hội thành viên hay đại hội đại biểu thành viên. Tại đây, họ là ngƣời lựa chọn, đề cử, ứng cử, bầu cũng nhƣ bổ nhiệm, miễn nhiệm trực tiếp hoặc gián tiếp các cơ quan nhƣ Ban điều hành, Ban kiểm soát của NHHTX nhằm quản lý, điều hành và giám sát hoạt động của NHHTX. Sự tự quản lý ở đây đƣợc thực hiện trên nguyên tắc dân chủ và bình đẳng. Mọi thành viên đều có quyền tham gia quản lý và quyết định nhƣ nhau, không phân biệt giới tính, giai cấp, tín ngƣỡng, địa vị xã hội, trình độ văn hoá, lĩnh vực ngành nghề, tƣ cách pháp nhân, đẳng cấp giàu nghèo và đặc biệt là số vốn góp vào NHHTX.
Mỗi thành viên chỉ có một 7 quyền biểu quyết, bất kể họ góp bao nhiêu vốn. Việc uỷ quyền biểu quyết cũng chỉ có giới hạn.