Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu va cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh. Chương 2: Thiết kế phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phan công nghệ Cloudify Việt Nam Chương 4: Định hướng và một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phan Công nghệ Cloudify Việt Nam CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt hiện nay, các doanh nghiệp đặc biệt hiện nay, các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm giữ vị thế trên thị trường và đảm bảo sự phát triển bền vững. Do được sự quan tâm, chú trọng nên có rất nhiều tác giả đã thực hiện nghiên cứu về vấn đề cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Dưới đây, tác giả tổng hợp một số công trình đã được nghiên cứu như sau: 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Trần Thị Như Ngọc (2021) đã nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Công nghệ IM Group. Nghiên cứu những nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh bao gồm: Nguồn nhân lực, nguồn tài chính, nguồn công nghệ, năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ; danh tiếng thương hiệu, khả năng xây dựng mỗi quan hệ. Từ những đánh giá phân tích, tác giả đã chỉ ra những hạn chế và đề xuất giải pháp mang tính thực tiễn đóng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty.
Lê Hồng Dương (2010) thực hiện nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Viwaseen. Trong nghiên cứu, tác giả đã tổng hợp khung lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ kết quả phân tích thực trạng năng lưc cạnh tranh của công ty Viwaseen thông qua công cụ marketing trong lĩnh vực xây dựng, nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp, kiến nghị đối với tổng công ty và các cơ quan quản lý nhà nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Viwaseen trong thời gian tới. Phạm Quang Minh (2013) thực hiện nghiên cứu về các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tài chính bưu chính trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong nghiên cứu, tác giả trình bày khái quát về đặc thù doanh nghiệp bưu chính viễn thông, tổng hợp lý thuyết về năng lực cạnh tranh, chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập. Dựa trên khung lý thuyết đã xây dựng, tác giả đã tiến hành phân tích thực trang năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính bưu chính trong bối cảnh hội nhập và tổng hợp những kết quả đạt được và hạn chế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Với những hạn chế còn tôn tại, nghiên cứu đã đề xuất giải pháp khắc phục hạn chế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp viễn thông đến năm 2020. Vũ Trọng Lâm (2006) thực hiện phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2005.
Trong nghiên cứu, tác giả đã làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam dựa trên khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh. Với những hạn chế và ton tại kìm hãm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chính giúp nâng cao hiệu quản kinh doanh, gia tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thê giới. Tình hình nghién cứu ngoài nước Barney (1991, 2001a) phát triển thông qua những lý thuyết của mình. Lý thuyết nguồn động lực cho rằng nguồn lực cà yếu tố chính mang lại lợi thế cạnh tranh cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn lực có thé là lợi thế cạnh tranh khi hội tụ các đặc điểm: đáng giá, hiếm, khó bắt chước và không thé thay thé được. Theo Adam Smith (1776): “Cạnh tranh là tổng thể hoạt động nham điều chỉnh hành vi gay gắt của các chủ thé trong nền kinh tế. Ông cho răng, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp chủ yếu là cạnh tranh về giá”. Marx (1978) cho rằng: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa đề thu lợi siêu ngạch”.Nordhaus (1989) cho rằng: “Cạnh tranh là sự tranh chấp giữa các doanh nghiệp với nhau để giành giật thị phần và khách hàng nhằm gia tăng lợi nhuận”.
Sanjaya Lall (2001) trong cuốn sách “Competitiveness, Technology and Skills” đã đưa ra các nhận định liên quan đến vấn đề tại sao cạnh tranh lại quan trọng và làm thế nào để các quốc gia nâng cao năng lực cạnh tranh. Những quốc gia có tiềm lực về kinh tế vững phát triển khoa học, công nghệ thông tin để tạo ra hang hóa với chi phí thấp, cạnh tranh so với các đối thủ. Trong khi các quốc gia ở trình độ phát triển trung bình cố gang bắt kịp thay đổi về cách mạng khoa học công nghệ, thì các nước kém phát triển bằng mọi phương thức dé tiếp cận được công nghệ tiên tiễn nhất va tạo ra những sản phẩm có thé cạnh tranh trong nền kinh tế. Appelbaum and Gereffi (2003): “The global apparel chain: What prospects for upgrading by developing countries” đã sử dung phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu đề lý giải các chuyền đổi trong phương thức sản xuất kinh doanh, phân phối, marketing sản phẩm, thương mại quốc tế đối với các doanh nghiệp may mặc tại một số quốc gia ở khu vực phía Bắc thị trường Mỹ.
Eckhard Siggel & John Cocburn (1997) cho rằng lợi thế cạnh tranh là một yêu tô câu thành nên năng lực cạnh tranh và đưa ra cách tiêp cận lợi thê cạnh tranh giá của sản phẩm trên trường quốc tế có sự tương quan giữa nhập khẩu và xuất khâu “Cạnh tranh nhập khẩu là sự chênh lệch giữa giá của các nhà sản xuất trong nước và mức giá nhập khâu trung bình được xử lý đúng từ nhiều nhà xuất khâu quốc tế. Tính cạnh tranh xuất khâu được đo bằng sự khác nhau giữa giá xuất khâu của nha sản xuất trong nước và giá của tat cả các nha xuất khẩu quốc tế tới một thị trường nhất định”. Duane Ireland, and Robert E. Hoskisson (2007) trong cuốn sách “Strategic Management: Competitiveness and Globalization” dua ra quan diém “Nang luc canh tranh chiến lược đạt được khi một công ty thành công trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược tạo ra giá tri.
Chiến lược là một bộ cam kết và hành động được kết hợp và phối hợp đề khai thác các năng lực cốt lõi nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh". Do vậy, chiến lược ở đây mang ý nghĩa tạo ra sự khác biệt thông qua việc lựa chọn các nội dung cạnh tranh. Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Lý luận chung về cạnh tranh Có rất nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau về cạnh tranh.
Qua mỗi thời kì, giai đoạn, mỗi lĩnh vực khác nhau người ta có quan điểm khác nhau về cạnh tranh. Theo Adam Smith (1776): “Cạnh tranh là tong thé hoạt động nhằm điều chỉnh hành vi gay gắt của các chủ thể trong nền kinh tế. Ông cho rằng, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp chủ yếu là cạnh tranh về giả”. Marx (1978) cho rằng: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa dé thu lợi siêu ngạch”.Nordhaus (1989) cho rằng: “Cạnh tranh là sự tranh chấp giữa các doanh nghiệp với nhau dé giành giật thị phần và khách hàng nhằm gia tăng lợi nhuận”.
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam (1995), cạnh tranh được định nghĩa là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giưa các thương nhân, các nhà kinh doanh bi chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhăm giành được các điêu kiện sản xuât, tiêu thụ và thị trường có lợi nhât. Micheal Porter (2001) cho rằng: “Cạnh tranh là các hoạt động được doanh nghiệp tiến hành nhăm giành lấy thị phan trên thị trường so với đối thủ. Theo ông, bản chất của cạnh tranh là hoạt động gia tăng lợi nhuận, mạng lại nhiễu lợi ích cho doanh nghiệp”. Từ những định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, tác giả xin đưa ra khái niệm cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là quá trình một chủ thể, một cá nhân, một tổ chức nỗ lực vượt qua đối thủ dé đạt được một hay một số mục tiêu nhất định trong kinh doanh.
- Các cấp độ cạnh tranh Các cấp độ cạnh tranh bao gồm: Cạnh tranh cấp quốc gia, cạnh tranh cấp ngành, cấp doanh nghiệp và cạnh tranh về sản phẩm, hàng hóa. Các cấp độ cạnh tranh đều có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng nếu năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và năng lực cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp yếu kém. - Cạnh tranh cấp quốc gia: Cạnh tranh cấp quốc gia là cấp độ cạnh tranh cao nhất, ảnh hưởng đến tất cả các cấp độ cạnh tranh khác, cũng như tác động đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa xuất khâu hoặc tiêu thụ tại thị trường nội địa.
Theo Hội đồng cạnh tranh Việt Nam (VCC): Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia là năng lực vận hành nền kinh tế có hiệu quả với chi phí hợp lý, tiết kiệm nguồn NSNN, đảm bảo sự phát triển 6n định và bền vững của nên kinh tế quốc dân. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có mối quan hệ mật thiết với năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp thông qua hệ thống các cơ chế chính sách điều chỉnh môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia mạnh, sẽ tạo điều kiện thuận lợi, môi trường kinh doanh thông thoáng cho doanh nghiệp hoạt động, phát triển từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Theo diễn đàn thế giới 1997 (WEF), năng lực cạnh tranh cấp quốc gia là sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế quốc dan, thé hiện ở mức độ tăng trưởng kinh tế, khả năng thu hút đầu tư, phát triển bền vững các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, đảm bảo cuộc sống 6n định cho người dân.
Day là tiền đề nâng cao năng lực của các cấp độ cạnh tranh khác.