phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, có kết cấu bao gồm 3 phần như sau: Phần 1: Cơ sở lý luận đối với quản lý nhà nước về tài sản công trên địa bàn cấp tỉnh Phần 2: Thực trạng quản lý nhà nước về tài sản công trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Phần 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước về tài sản công trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 6 Phần 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI SẢN CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Khái quát về tài sản công 1. Khái niệm và phân loại tài sản công 1. Khái niệm tài sản công Tài sản công, công sản, hay tài sản nhà nước là thuật ngữ để chỉ các tài sản thuộc sở hữu chung của cộng đồng trong thể chế nhà nước.
Đào Duy Anh (1957) đã định nghĩa “Tài sản công hay công sản là sản nghiệp của Nhà nước hoặc của đoàn thể công cộng”. (Theo Từ điển hán việt giản lược, của Đào Duy Anh tr. Tiếp nối quan điểm này, theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp Việt Nam năm 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.” Theo Quốc hội Việt Nam (2017): “Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: Tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; Tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; Tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; Tài sản công tại doanh nghiệp; Tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; Đất đai và các loại tài nguyên khác.” (Khoản 1 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017) Trong phạm vi nghiên cứu của đề án, tác giả thống nhất với quan điểm về tài sản công được nêu trên tại khoản 1 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017. Trong đó, tài sản công là một loại tài sản chung thuộc sở hữu toàn dân được nhà nước đại diện quản lý để sử dụng với những mục đích và nhiệm vụ quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng.
Việc đưa ra khái niệm tài sản công cụ thể để nhằm mục đích giúp phân biệt tài sản công với các loại tài sản khác tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng tài sản công trong thực tiễn địa phương. Phân loại tài sản công Theo Điều 4 tại Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, tài sản công 7 được Quốc hội quy định phân chia thành 07 nhóm bao gồm: - Nhóm 1: Tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh của cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật về hội, trừ tài sản của dự án sử dụng vốn nhà nước (gọi là tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị). - Nhóm 2: Tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng là các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, công trình kết cấu hạ tầng xã hội và vùng đất, vùng nước, vùng biển gắn với các công trình kết cấu hạ tầng, bao gồm: Hạ tầng giao thông, hạ tầng cung cấp điện, hạ tầng thủy lợi và ứng phó với biến đổi khí hậu, hạ tầng đô thị, hạ tầng cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, hạ tầng thương mại, hạ tầng thông tin, hạ tầng giáo dục và đào tạo, hạ tầng khoa học và công nghệ, hạ tầng y tế, hạ tầng văn hóa, hạ tầng thể thao, hạ tầng du lịch và hạ tầng khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là tài sản kết cấu hạ tầng). - Nhóm 3: Tài sản công tại doanh nghiệp nhà nước.
Là nguồn tài sản công được giao cho các doanh nghiệp nhà nước quản lý và sử dụng. - Nhóm 4: Tài sản của dự án sử dụng vốn nhà nước do Nhà nước đầu tư, quản lý để phục vụ kiến thiết đất nước, phát triển kinh tế xã hội. - Nhóm 5: Tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật bao gồm: Tài sản bị tịch thu; tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, bị chìm đắm được tìm thấy, tài sản không có người nhận thừa kế và tài sản khác thuộc về Nhà nước theo quy định của Bộ luật Dân sự. - Nhóm 6: Tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và dự trữ ngoại hối nhà nước.
- Nhóm 7: Đất đai; tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, kho số viễn thông và kho số khác phục vụ quản lý nhà nước, tài nguyên Internet, phổ tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh và các tài nguyên khác do Nhà nước quản lý theo quy định của pháp luật. Vai trò của tài sản công Tài sản công có vai trò rất quan trọng trong việc tạo nguồn lực và duy trì hoạt động phát triển kinh tế, xã hội, hành chính của đất nước. Cụ thể: 8 Thứ nhất, tài sản công là nguồn lực nội sinh của đất nước, là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và quản lý xã hội, là nguồn lực tài chính tiềm năng cho đầu tư phát triển, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thứ hai, Nguồn lực từ tài sản công được khai thông sẽ đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội và điều hành kinh tế vĩ mô.
Việc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công được triển khai thực hiện với những tài sản có khối lượng và giá trị lớn: nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước; kết cấu hạ tầng giao thông; đất đai và tài nguyên thiên nhiên; tài sản tịch thu và tài sản xác lập sở hữu nhà nước… Thứ ba, tài sản công cung cấp nguồn lực để Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng và đầu tư cho các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn. Là cơ sở vật chất để các cơ quan hành chính sự nghiệp sử dụng để hoạt động và cung cấp dịch vụ công ích, lãnh đạo điều hành đất nước. Thứ tư, các loại tài sản công khác nhau gắn với sử dụng với những mục đích và nhiệm vụ khác nhau nhưng đều góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng tại địa phương và đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển chung của quốc gia. Thứ năm, tài sản công là tài sản chung của quốc gia và thuộc sở hữu của tất cả người dân, cho nên số lượng và chất lượng, gái trị của tài sản công cũng phản ánh mức độ phát triển kinh tế- xã hội và vị thế của một đất nước.
Lý luận đối với quản lý nhà nước về tài sản công trên địa bàn cấp tỉnh 1. Khái niệm và mục tiêu quản lý nhà nước về tài sản công trên địa bàn cấp tỉnh 1. Khái niệm quản lý nhà nước về tài sản công Theo Nguyễn Hữu Tri và Cộng sự (2012): “QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”. Võ Hồng Phúc (2017) trong “Giáo trình quản lý nhà nước” cho rằng “Quản lý nhà nước là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý là cơ quan quản lý nhà nước tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất”.
Như vậy, QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử 9 dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. QLNN được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. Từ khái niệm tài sản công kết hợp với khái niệm QLNN, có thể hiểu QLNN đối với tài sản công trên địa bàn cấp tỉnh như sau: Quản lý nhà nước đối với đối với tài sản công trên địa bàn cấp tỉnh là hoạt động chỉ đạo, điều hành và kiểm tra giám sát việc hình thành, sử dụng và thanh lý tài sản công thông qua cơ chế chính sách, pháp luật của hệ thống cơ quan QLNN trên địa bàn tỉnh nhằm đảm bảo tài sản công trên địa bàn được quản lý và sử dụng đúng quy trình, quy định và mang lại hiệu quả cao nhất trong việc phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng tại địa phương. Mục tiêu quản lý nhà nước về tài sản công trên địa bàn cấp tỉnh Quản lý nhà nước về tài sản công trên địa bàn cấp tỉnh hướng đến những mục tiêu cụ thể sau đây: Thứ nhất, giảm thất thoát, lãng phí: Quản lý nhà nước về tài sản công tại trên địa bàn cấp tỉnh nhằm sử dụng hợp lý, tiết kiệm và khai thác có hiệu quả các tài sản công hiện có và mua sắm phát triển mới tài sản cộng một cách tiết kiệm, minh bạch và hiệu quả nhất.
Đồng thời, Quản lý nhà nước về tài sản công phải gắn với kiểm soát khâu hao, giữ gìn và bảo quản tài sản công, chống mọi hành vi tham ô, lãng phí trong sử dụng tài sản công và khai thác hiệu quả tài sản công để phục vụ cho hoạt động hành chính sự nghiệp và phát triển kinh tế của địa phương.