CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và vai trò của quản trị nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về Nguồn nhân lực: Theo Nguyễn Ngọc Quân [4] “Nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, mà nguồn lực này bao gồm cả trí lực và thể lực”. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, làm việc và nghỉ ngơi …Thể lực của mỗi người phụ thuộc và tuổi tác, giới tính… Trí lực chỉ sự hiểu biết, khả năng tiếp thu kiến thức, những suy nghĩ, quan điểm và năng khiếu, tài năng…của mỗi người. Theo Niclolas Henry, Quản trị công và Chính sách công, tái bản lần thứ 10, 2007 [5] thì “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của các quốc gia, khu vực, thế giới”. Theo định nghĩa của Liên Hợp quốc “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Còn theo định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người đang trong độ tuổi lao động và đồng thời có khả năng tham gia lao động. Khái niệm nguồn nhân lực được tiếp cận theo hai nghĩa: Nguồn nhân lực hiểu theo nghĩa rộng là nguồn lao động cho sản xuất xã hội và cho sự phát triển của xã hội, do đó có thể nói nguồn nhân lực là toàn bộ dân số có thể phát triển bình thường. 6 Nguồn nhân lực hiểu theo nghĩa hẹp là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội, bao gồm lực lượng dân số trong độ tuổi lao động, nguồn lực này có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội.
Tức là để tham gia vào quá trình lao động cần đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về thể lực và trí lực cũng như các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết. Nguồn nhân lực còn được hiểu là tổng thể những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng hợp các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Thêm một cách hiểu khác về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực còn được hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố thể chất và tinh thần của những người bắt đầu bước vào độ tuổi lao động trở lên có tham gia vào quá trình sản xuất của xã hội. Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng không thể thiếu có vai trò quyết định đến sự thành bại của công ty.
Vì vậy, nhà quản lý cần quan tâm và phát triển nguồn nhân lực nhằm đảm bảo nguồn nhân lực đủ mạnh cả về chất và lượng, đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ trong hiện tại mà còn cả tương lai.2 Khái niệm Quản trị nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực là một hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng nhằm thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cho tổ chức và con người của tổ chức đó. Xét trên góc độ là một trong những chức năng cơ bản của quá trình quản trị: Quản trị nguồn nhân lực bao gồm việc lập kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, điểu phối và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức. Xét về nội dung hoạt động của quản trị nhân lực thì quản trị nguồn nhân lực là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông quan tổ chức của nó nhằm thu hút, xây dựng và phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu của tổ chức về mặt số lượng và chất lượng. 7 Xét về bản chất thì quản trị nguồn nhân lực là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một tổ chức, là sự đối xử của tổ chức với người lao động.
Nói cách khác, quản trị nguồn nhân lực chịu trách nhiệm đưa con người vào tổ chức, giúp con người thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh. Theo sách Armstrong’s handbook of human resource management practice [6]: Human resource management (HRM) is a comprehensive and coherent approach to the employment and development of people. HRM can be regarded as a philosophy about how people should be managed that is underpinned by a number of theories relating to the behaviour of people and organizations. It is concerned with the contribution it can make to improving organizational effectiveness through people but it is, or should be, equally concerned with the ethical dimension – how people should be treated in accordance with a set of moral values.
HRM involves the application of policies and practices in the fields of organization design and development, employee resourcing, learning and development, performance and reward, and the provision of services that enhance the wellbeing of employees. Theo Mathis & Jackson (2010) [7] Quản trị nguồn nhân lực là việc thiết kế các hệ thống chính thức trong một tổ chức để đảm bảo hiệu quả và hiệu quả sử dụng tài năng của con người nhằm thực thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Tóm lại, quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp có thể được hiểu là tất cả các hoạt động, chính sách và các quyết định quản lý liên quan và có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên để thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Để công tác quản trị nguồn nhân lực có hiệu quả đòi hỏi phải có tầm nhìn chiến lược và gắn với chiến lược với các mục tiêu hoạt động của công ty.3 Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực Thứ nhất, mục tiêu kinh tế: Hoạt động quản trị nguồn nhân lực được diễn ra nhằm mục đích giúp cho doanh nghiệp sử dụng một cách hiệu quả nhất nguồn lực con người, từ đó tăng năng suất, chất lượng công việc.
Từ đó, gia tăng lợi nhuận, tạo ra thặng dư cho doanh nghiệp 8 Thứ hai, mục tiêu xã hội: Quản trị nguồn nhân lực giúp người lao động có công ăn việc làm tăng thu nhập. Hơn thế nữa, quản trị nguồn nhân lực còn đưa ra các giải pháp nhằm đào tạo, giáo dục, động viên người lao động phát triển phù hợp đáp ứng tiến bộ xã hội, làm trong sạch môi trường xã hội Thứ ba, mục tiêu củng cố và phát triển tổ chức: Quản trị nguồn nhân lực là một bộ phận của quản trị doanh nghiệp đồng thời nó cũng được xem là một phương tiện để khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên trong của doanh nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầu về tính hiệu quả và nhất quán của bộ máy quản trị nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Thứ tư, mục tiêu cá nhân: Các nguồn lực được sử dụng để hỗ trợ các mục tiêu cá nhân của mỗi nhân viên. Điều này bao gồm việc cung cấp cơ hội học tập hoặc phát triển nghề nghiệp cũng như duy trì sự hài lòng của nhân viên 1.4 Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Quản trị nhân lực đóng vai trò rất quan trọng trong các doanh nghiệp.
Quản trị nguồn nhân lực hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển. Những vai trò chính của quản trị nguồn nhân lực như sau: Thứ nhất, vai trò quan trọng nhất của quản trị nhân sự đó chính là giúp xây dựng, định hướng cũng như giám sát bộ máy nhân sự trong doanh nghiệp hoạt động đúng với mục tiêu chiến lược đã đề ra. Doanh nghiệp cần cải tiến tổ chức theo hướng tinh giảm, gọn nhẹ, năng động trong đó tập trung vào yếu tố con người, những người mang tính quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Con người - với kỹ năng, trình độ của mình, sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để thiết kế và sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ, kiểm tra chất lượng, đưa sản phẩm ra bán trên thị trường, phân bố nguồn tài chính, xác định các chiến lược chung và các mục tiêu cho tổ chức.
Mọi tổ chức sẽ không thể nào hoàn thành các mục tiêu của mình nếu như người lao động làm việc không hiệu quả. Thứ hai, quản trị nhân lực hiệu quả tác động đến môi trường làm việc, giúp nhân viên có tinh thần làm việc hơn, gắn kết mọi người với nhau, gắn kết nhân viên với tổ chức, nâng cao năng suất lao động và mang lại doanh thu cao. Một nhà quản trị giỏi có thể 9 lập kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có sự giám sát, kiểm tra hiện đại và đầy đủ vẫn có thể thất bại nếu không biết tuyển đúng người cho đúng việc, không biết cách khuyến khích nhân viên làm việc, không xây dựng được môi trường làm việc và không gắn kết được mọi người với nhau. Vì vậy nhà quản trị không chỉ biết cách làm việc mà còn hòa hợp với mọi người, lôi kéo mọi người cùng đứng về phía mình, say mê với công việc và cùng nhau phấn đấu để thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức cũng như các mục tiêu cá nhân.
Thứ ba, việc quản trị nhân lực là nó còn thể hiện bộ mặt của doanh nghiệp. Một tổ chức quản trị nhân sự tốt sẽ có nhiều người tài, họ năng động sáng tạo, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cho chính doanh nghiệp. Do vậy, thực hiện tốt các nội dung hoạch định nhân lực, tuyển dụng nhân lực, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con người thông qua tổ chức nhằm đạt được mục tiêu là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp.