Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Ngành chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm trên thế giới Theo thống kê của Shahbandeh trên trang statista.com ngày 5 tháng 2 năm 2021 về số lượng gà toàn cầu 1990-2019, số lượng gà trên toàn thế giới năm 2019 đã tăng hơn gấp đôi kể từ năm 1990 (Hình 1. Năm 2019, có khoảng 25,9 tỷ con gà trên thế giới tăng 14,38 tỷ con so với thống kê của năm 2000.
- Đối với chăn nuôi gà đẻ trứng: thống kê năm 2019 cho thấy Trung Quốc có số lượng sản xuất trứng cao nhất với 661 tỷ quả, đứng thứ hai là Hoa Kỳ với sản lượng trứng chỉ đạt khoảng 113 tỷ quả. - Đối với chăn nuôi gà thịt: Trong vài năm gần đây, thịt gia cầm đã vượt qua thịt lợn để trở thành loại thịt được sản xuất nhiều nhất trên toàn thế giới. Hoa Kỳ là quốc gia có sản lượng chăn nuôi gà thịt cao nhất khoảng 20,5 triệu tấn vào năm 2020. Trung Quốc và Brazil đứng thứ hai và thứ ba về sản lượng chăn nuôi gà thịt, lần lượt là 15 triệu và 13,7 triệu tấn.
1 Thống kê số lượng gà toàn cầu năm 1990 đến năm 2019 [1] Theo dự báo của FAO, mức tiêu thụ trứng toàn cầu sẽ tăng từ 6,5 kg/người/năm trong năm 2000 lên 8,9 kg (khoảng 148 quả) /người/năm vào năm 2030 tại các nước đang phát triển. Ở các nước công nghiệp, tiêu thụ trứng được dự báo sẽ tăng từ 13,5 kg (khoảng 225 quả)/người/năm vào năm 2020 lên 14,8 kg (khoảng 247 quả)/người/năm vào năm 2030. Hơn 67% mức tiêu thụ trứng toàn cầu thuộc về các nước châu Á. Ở Trung Quốc, nơi tiêu thụ trứng cao hơn gấp đôi mức trung bình của các nước đang phát triển, mức tăng Luan van 5 tiêu thụ từ 15 kg/người/năm (250 quả) trong năm 2000 lên 20 kg (333 quả)/người/năm vào năm 2030 [2].
Thực trạng chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm ở Việt Nam Việt Nam là nước nông nghiệp với 70% dân số sống ở nông thôn. Chín mươi phần trăm trong số hộ gia đình (khoảng 8 triệu hộ gia đình) chăn nuôi gia cầm. Như vậy, chăn nuôi gia cầm đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế hộ gia đình bằng cách đóng góp 19% thu nhập cho hộ gia đình, xếp thứ hai sau chăn nuôi lợn. Theo số liệu từ điều tra chăn nuôi của Tổng cục Thống kê ngày 1/1/2021, tổng đàn gà của Việt Nam năm 2021 có hơn 409 triệu con, tăng 7,03% so với năm 2020.
Trong đó, đàn gà thịt có mức tăng tốt hơn so với gà lấy trứng (mức tăng của gà lấy thịt là 7,29%, còn lại là gà lấy trứng 5,99%). Năm 2021, số lượng gà đẻ trứng là 81,688 triệu con, tăng 4,618 so với thống kê cùng kỳ năm 2020. Số lượng trứng gà năm 2021 đạt trên 11 tỷ quả trứng, tăng hơn 9,4% so với thống kê tháng 1 năm 2020. Thống kê chăn nuôi gà ngày 01/01/2021 của tổng cục thống kê (04/2021) Tăng, giảm So sánh (%) Đơn 1.2021 1/1/2020 1/1/2021 vị tính với với 1.2020 Số lượng gà 1000 con 382,597 409,500 26,903 107.03 Gà thịt 1000 con 305,527 327,812 22,285 107.29 Trong đó gà công nghiệp 1000 con 71,420 75,602 4,182 105.85 Gà đẻ trứng 1000 con 77,070 81,688 4,618 105.99 Trong đó gà công nghiệp 1000 con 32,041 34,083 2,042 106.37 Số trứng gà 1000 quả 10,118,872 11,070,205 951,333 109.40 Trong đó gà công nghiệp 1000 quả 6,024,813 6,592,989 568,176 109.
Thách thức của ngành chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm tại Việt Nam Trứng gà là sản phẩm phổ biến và tiện lợi trong cách nấu nướng, cũng như có giá trị dinh dưỡng cao, do đó nhu cầu sử dụng trứng gà ngày càng tăng. Đặc biệt, trứng gà dễ chế biến, được bảo quản tốt hơn các sản phẩm làm từ động vật khác như sữa bò, dễ vận chuyển và đa dạng về ứng dụng sản phẩm, do đó có nhu cầu tiêu thụ cao. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT năm 2016, tính bình quân đầu người tiêu thụ trứng ở Việt Nam là 89 quả trứng/ Luan van 6 người, tăng 21 quả trứng so với năm 2013. Tuy nhiên, mức tiêu thụ trứng của người Việt Nam khá thấp so với các nước khác trong khu vực.
Theo thống kê của Euromonitor International năm 2015, lượng trứng tiêu thụ trung bình ở Việt Nam là 2,8 kg trên đầu người vào năm 2015 - trong khi ví dụ ở Indonesia, mức trung bình tiêu thụ là 3,5 kg trứng trên đầu người một năm, ở Nhật Bản là 12,6 kg và ở Singapore là 15,5 kg (hình 1. Tiêu thụ trứng bình quân đầu người năm 2015 (Nguồn: Euromonitor International, 2015) Theo Cục Chăn nuôi và Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, đàn gia cầm ở Việt Nam có tốc độ tăng trưởng trung bình là 4,9% / năm trong giai đoạn 2008-2013. Tại Đồng bằng sông Cửu Long tổng đàn năm 2013 là 58,7 triệu con, bằng 18,7% tổng đàn. Về mặt sản lượng trứng, cả nước sản xuất 9,2 triệu quả trứng trong năm 2016 theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Từ năm 2016 đến năm 2020, lượng trứng tăng trung bình hàng năm sản lượng ước tính là 10%. Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất khoảng 22,7% tổng lượng trứng sản xuất. Với nhu cầu sử dụng trứng trong nước và xuất khẩu trứng gia tăng, vấn đề chất lượng trứng được đặt lên hàng đầu. Đặc biệt, trong xu thế chung việc dư thừa kháng sinh trong các sản phẩm chăn nuôi được kiểm soát chặt chẽ, khó khăn và thách thức đặt ra cho ngành chăn nuôi gà đẻ là cần tìm giải pháp tối ưu để sản phẩm trứng đầu ra đạt tiêu chuẩn.
Thực trạng môi trường chăn nuôi công nghiệp ở Việt Nam Cùng với xu hướng chăn nuôi quy mô lớn hơn và chăn nuôi thâm canh, ô nhiễm môi trường đang trở nên nghiêm trọng hơn do xử lý chưa tốt chất thải động vật và sử dụng thức ăn công nghiệp chưa hợp lý. Phần lớn các cơ sở chăn nuôi lợn và gia cầm hiện sử dụng thức ăn công nghiệp mặc dù những cơ Luan van 7 sở chăn nuôi nhỏ vẫn sử dụng thức ăn truyền thống (đó là gạo và cám gạo). Ngoài hàm lượng dinh dưỡng cao, (đó là đạm), thức ăn công nghiệp cũng chứa hooc-môn tăng trưởng, kháng sinh và kim loại nặng (từ năm 2014, hóc môn tăng trưởng đã bị Cục Thú y cấm sử dụng trong chăn nuôi). Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng 60% mẫu thức ăn cho lợn được báo cáo là cho thấy ít nhất một loại kháng sinh thuộc nhóm tetracylin và tylosin.
Dinh dưỡng và kháng sinh cùng những dư lượng khác trong phân động vật chưa qua xử lý, khi xả ra đất và nước xung quanh chính là những nguyên nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm cục bộ. Theo Sở Nông nghiệp. và Phát triển Nông thôn Hà Nội, thành phố đã có 1,223 trang trại chăn nuôi vào năm 2010. Phần lớn trong số đó có quy mô nhỏ và 80% nằm tại những khu vực dân cư.
Ô nhiễm môi trường do sản xuất chăn nuôi gây ra là rủi ro lớn nhất cho vật nuôi và sức khỏe công cộng [3]. Mặt khác, sự chuyển đổi từ chăn nuôi quảng canh truyền thống sang sản xuất chăn nuôi thâm canh đang tạo ra khối lượng ngày càng lớn chất thải chăn nuôi. Tới năm 2015, chăn nuôi lợn đã tạo ra tỷ lệ phân cao nhất (30,3%), sau đó là gia cầm (27,4%), và bò (23,7%), trâu (17,1%), và những loại khác như dê, ngựa (1,3%). Theo thống kê của Bộ NN&PTNT (2015) Việt nam có khoảng 80 triệu tấn chất thải động vật mỗi năm.
Khoảng 80% số phân được tạo ra bởi các cơ sở chăn nuôi các nông hộ nhỏ và số còn lại là từ những cơ sở trang trại chăn nuôi. Số lượng vật nuôi được phân bố không đều giữa các vùng của Việt Nam. Những vùng có số lượng vật nuôi lớn nhất là Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng Nam Bộ. Khối lượng chất thải động vật trên mỗi km2 vào khoảng 239,8 tấn.
Theo ước tính có khoảng 36% tổng khối lượng phân động vật được thải trực tiếp vào môi trường; với tỷ lệ từ 16% đối với chăn nuôi thâm canh tới 40% đối với chăn nuôi nhỏ hộ gia đình. Theo báo cáo, tại vùng đồng bằng sông Hồng - vùng có số lượng lợn nhiều nhất Việt Nam có khoảng 82% lượng phân từ hệ thống chăn nuôi thâm canh được xử lý trong khi chỉ có 39% lượng phân từ các hệ thống chăn nuôi quảng canh được xử lý [3]. Các phương pháp quản lý chất thải chăn nuôi taị Việt Nam Hiện tại, chất thải chăn nuôi được xử lý bằng nhiều cách, bao gồm ủ phân compost, sử dụng cho hầm khí đốt sinh học và sử dụng trực tiếp dưới dạng phân tươi làm phân bón. Trong ủ phân compost, chất thải rắn được thu Luan van 8 lại và trộn để sản xuất phân bón hữu cơ trong khi phần chất lỏng được rửa trôi khỏi sàn chuồng và xả vào môi trường xung quanh hoặc ao cá.
Trong khí đốt sinh học, chất thải được thu lại và xử lý trong hầm khí sinh học, khí ga tạo ra sẽ được sử dụng cho việc nấu và chất thải sau biogas được sử dụng làm phân bón hoặc xả vào các ao chăn nuôi cá. Tại một số nơi, phân chuồng tươi (phân gà) đươc bán và bón thẳng cho cây cối như một loại phân hữu cơ [3]. Phân gia cầm có xu hướng trở thành loại phân hữu cơ được người dân ưa chuộng vì nó chứa hàm lượng chất đạm cao và những chất dinh dưỡng cần thiết khác cho cây. Ngoài ra, nó có hàm lượng chất khô cao và dễ thu gom, xử lý và ít tốn kém hơn trong vận chuyển hơn so với những loại chất thải động vật khác.
Người dân thường bón trực tiếp cho cây trồng (hoặc cất trữ tạm thời cho mục đích này) sau khi dọn phân ra khỏi chuồng gia cầm. Tại các cơ sở chăn nuôi thương phẩm, phân gà thường được bán trực tiếp cho những người thu gom không qua xử lý. Nông dân và người sản xuất phân bón có thể tới và mua phân khô trực tiếp tại trại gà hoặc thông qua trung gian. Phân gà là một nguồn phân hữu cơ được ưa chuộng cho cà phê, hồ tiêu và cây ăn quả [4].
Năm 2014, theo báo cáo có khoảng 23,4 triệu tấn phân gia cầm được thải ra từ các cơ sở chăn nuôi gia cầm, trong đó 75% được sử dụng trực tiếp làm phân bón [3]. Ô nhiễm gây ra bởi chất thải chăn nuôi 1. Ô nhiễm nước Chất thải chăn nuôi và các chất hóa học được sử dụng vào những hoạt động nông nghiệp là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm nước tại các khu vực nông thôn.