MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngô (Zea mays L.) thuộc chi Zea, tông Androppogoneae, họ Poaceae, bộ Poales. Ngô là cây ngũ cốc quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu vì nó nuôi sống ít nhất 30% dân số thế giới và là cây lƣơng thực đứng thứ 3 sau lúa mì và lúa. Ngô là nguồn cung cấp lƣơng thực và an ninh dinh dƣỡng chủ yếu cho hàng triệu ngƣời ở các nƣớc đang phát triển, đặc biệt là ở Châu Phi và Châu Mỹ Latinh.
Ngô có thể đƣợc sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau nhƣ đƣợc dùng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và sản xuất công nghiệp (nguyên liệu cho sản xuất nhiên liệu sinh học). Theo số liệu thống kê của USDA (United States Department of Agriculture) (tháng 1 năm 2017), Mỹ và Trung Quốc vẫn là hai cƣờng quốc sản xuất ngô lớn nhất thế giới với sản lƣợng lần lƣợt là 384 triệu tấn và 219 triệu tấn (http://worldofcorn. Năng suất trung bình ngô của Mỹ là 11. Ở Việt Nam, ngô là cây lƣơng thực quan trọng đứng thứ 2 sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất đƣợc trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác.
Cây ngô không những cung cấp lƣơng thực cho ngƣời, làm thức ăn cho vật nuôi mà còn giúp xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh có điều kiện kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, ngô lại chỉ đƣợc trồng ở những khu vực không có lợi cho việc trồng cây công nghiệp. Do ngô chủ yếu đƣợc gieo trồng trong điều kiện không thuận lợi nên sản lƣợng mặt hàng này của Việt Nam đang rất thấp.Theo số liệu thống kê của tổng cục thống kê (http://www.vn/) năm 2016, năng suất ngô trung bình cả nƣớc vào khoảng 45,3 tạ/ha, sản lƣợng đạt khoảng 5,23 triệu tấn trên diện tích gieo trồng khoảng 1,15 triệu ha. Theo thống kê của FAO, Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai nƣớc sản xuất ngô hàng đầu thế giới với lần lƣợt là 377,5 triệu tấn và 224,9 triệu tấn.
Luan van 2 Sản xuất ngô cả nƣớc qua các năm không ngừng tăng về diện tích,năng suất, sản lƣợng: năm 2001 tổng diện tích ngô là 730.000 ha, đến năm 2005 đã tăng lên 1 triệu ha, năm 2010 diện tích ngô cả nƣớc là 1126,9 nghìn ha, năng suất đạt 40,9 tạ/ha, sản lƣợng trên 4,6 triệu tấn. Tính đến thời điểm năm 2016, diện tích cả nƣớc gieo trồng giảm chủ yếu do hạn hán không gieo trồng đƣợc, năng suất ngô năm 2016 đạt 46 tạ/ha (tăng 1,2 tạ/ha so với 2015). Sản lƣợng ƣớc đạt 5,1 triệu tấn. Năm 2020 , sản lƣợng chỉ còn 4,5 triệu tấn do giảm mạnh diện tích gieo trồng cả nƣớc ảnh hƣởng của mƣa, bão, lũ lụt tại các địa phƣơng phía Bắc.
[1] Giống ngô LVN10 của Viện nghiên cứu Ngô, là giống ngô cho năng suất cao nhất hiện nay ở nƣớc ta, màu sắc và dạng hạt đẹp, độ đồng đều cao, chịu hạn, chịu chua phèn, chống đổ tốt, ít nhiễm sâu bệnh. Đây là giống thích ứng với mọi vùng sinh thái trong cả nƣớc. Giống LVN10 có trung bình 10-12 hàng hạt/bắp, bắp dài 18-22cm, năng suất trung bình 55-65 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 80-90 tạ/ha.[2] Do có nhiểu đặc tính tốt và năng suất cao mà LVN10 đƣợc trồng khá phổ biến ở nƣớc ta. Nhận thấy tiềm năng phát triển của chúng, chúng tôi chọn cách tiếp cận tăng năng suất ngô hơn nữa bằng cách làm tăng số hàng hạt trên một bắp ngô nhờ sử dụng đột biến fea* có khả năng làm giảm họat tính của gen kiểm soát sự phân chia của đỉnh sinh trƣởng ở bắp ngô.[3] FEA2 (FASCIATED EAR2) là gene điều khiển kích thƣớc mô phân sinh, do đó có ảnh hƣởng đến số hàng hạt trên bắp ngô.
Bommert và cộng sự đã phát hiện ra 4 đột biến điểm ở gene FEA2, trong đó có một đột biến lặn fea* làm giảm hoạt tính của gene FEA2 và tăng số hàng hạt trên bắp nhƣng không gây ảnh hƣởng đến các tính trạng khác trên bắp ngô. Cho đến nay, ở Việt Nam chƣa tìm thấy kết quả nghiên cứu nào trong nƣớc công bố về tăng năng suất ngô bằng cách tăng số hàng hạt. Các gen quy định số hàng hạt trên bắp mới bắt đầu đƣợc phát hiện và làm rõ chức năng. Luan van 3 Do đó mà nguồn vật liệu mang những đột biến tiềm năng trong việc tăng năng suất ngô bằng cách tăng số hàng hạt là chƣa phổ biến và khó tiếp cận.
Việc sử dụng chỉ thị phân tử ở ngô đã đƣợc sử dụng rất thành công trên thế giới để chọn tạo giống ngô nhƣng chƣa đƣợc áp dụng ở Việt Nam. Do vậy, việc ứng dụng chỉ thị phân tử trong việc nghiên cứu đƣa gen fea* làm tăng số hàng hạt của các dòng ngô bố mẹ ƣu tú sẽ nhanh chóng tạo ra giống ngô lai có năng suất cao phục vụ cho sản xuất là thực sự cần thiết. Bằng cách lai tạo chuyển đột biến lặn fea* vào các dòng bố mẹ của tổ hợp lai ngô LVN10 thông qua phƣơng pháp lai trở lại (MABC: marker assisted backcross) có thể cải tiến năng suất của giống ngô này. MABC đã đƣợc áp dụng cho lai tạo ngô trên thế giới [4], là phƣơng pháp lai chuyển một vài tính trạng ƣu việt (đã biết chỉ thị phân tử) từ dòng cho gene sang dòng nhận gene (là dòng muốn cải tiến) bằng lai trở lại có sử dụng chỉ thị phân tử để chọn lọc con lai.
Qua mỗi thế hệ lai trở lại (backcross-BC), trong hệ gene của cây lai thành phần gene (genetic component) của cây cho gene sẽ giảm đi một nửa 50% (F1) , 75% (BC1), 87. Vì thế, độ giống nhau của cây lai so với dòng nhận gene sẽ tăng dần qua các thế hệ BC. Dòng BC6F1, BC6F2 mang di truyền của giống ngô LVN10, mang thêm gen đột biến fea* có độ đồng hợp cao (>98%) cho năng suất cao hơn so với dòng bố, mẹ. Tổ hợp lai F1 giữa các dòng bố mẹ cải tiến mang gen fea* se cho năng suất vƣợt trội giống ngô lai LVN10.
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ứng dụng chỉ thị phân tử để đƣa gen fea* làm tăng số hàng hạt vào các dòng bố, mẹ giống ngô lai LVN10 phục vụ công tác tạo giống ngô lai năng suất cao”. Mục đích nghiên cứu Mục tiêu chung : Đánh giá khả năng làm tăng hàng hạt và tăng năng suất của gen fea* trong giống ngô LVN10 phục vụ chọn tạo giống ngô mới có Luan van 4 năng suất cao hơn. Mục tiêu cụ thể : Cải tiến đƣợc dòng bố mẹ của LVN10 mang gen fea* bằng phƣơng pháp chỉ thị phân tử và lai trở lại, từ đó chọn đƣợc dòng bố mẹ cải tiến ƣu tú, lai tạo đƣợc dòng F1 mới tăng lên 2 hàng hạt, năng suất cao hơn giống LVN10 thƣơng mại hiện nay ít nhất 10% 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: dòng ngô LVN10 của Việt Nam và 2 dòng bố mẹ Thời gian nghiên cứu: từ tháng 09/2018 tới tháng 10/2020.
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu thực nghiệm ngoài đồng ruộng tiến hành tại ruộng ngô Đông Anh, Hà Nội và ruộng ngô tại Viện nghiên cứu cây trồng- Tập đoàn Thái Bình Seed. Các thí nghiệm sinh học phân tử đƣợc thực hiện, tại Bộ môn Kỹ thuật di truyền, Viện Di truyền Nông nghiệp. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Ý nghĩa khoa học: Thiết kế các chỉ thị phân tử để xác định gen đích và các gen đồng hợp có mặt trong nền di truyền của cá thể chính xác hơn so với chọn lọc rút dòng bằng mắt thƣờng, từ đó xây dựng quy trình nghiên cứu trên các thí nghiệm tƣơng tự để chọn lọc dòng hiệu quả. Phƣơng pháp chọn lọc dòng dựa trên chỉ thị phân tử nhanh và chính xác hơn, khắc phục đƣợc những nhƣợc điểm của phƣơng pháp chọn lọc dòng truyền thống.
Ý nghĩa thực tiễn: Chọn đƣợc dòng bố mẹ cải tiến LVN10 mang gen fea*, từ đó lai tạo đƣợc dòng F1 mới tăng lên 2 hàng hạt, năng suất cao hơn giống LVN10 thƣơng mại, năng suất tăng ít nhất 10%. Góp phần làm tăng sản lƣợng ngô cả nƣớc và tạo ra một giống ngô mới đƣa ra thị trƣờng, tạo tiền đề cho các nghiên cứu lai tạo giống ngô mới ở Việt Nam. Luan van 5 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ CHỌN TẠO GIỐNG NGÔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 1. Sản xuất ngô trên thế giới Ngô là cây ngũ cốc nuôi sống gần 1/3 dân số thế giới. Ở các nƣớc trồng ngô, nó đƣợc sử dụng làm lƣơng thực với các mức độ khác nhau. Đặc biệt ngô là cây lƣơng thực đóng vai trò chủ lực tại các nƣớc Nam Á (42.3%) và Châu Phi (75%) [5].
Ngoài việc đƣợc sử dụng làm lƣơng thực, ngô ngày nay còn có thể đƣợc sử dụng nhƣ là nguồn thực phẩm cho con ngƣời với nhiều cách chế biến khác nhau, hoặc thức ăn cho gia súc và tạo sinh khối, hay trong công nghiệp sản xuất cồn, bánh kẹo, tinh bột. Gần đây, ngô còn đƣợc chú trọng hơn trong công nghiệp vì đƣợc sử dụng làm nguyên liệu sản xuất xăng sinh học thay thế cho các nguồn nhiên liệu hóa thạch đang cạn kiệt dần. Theo số liệu thống kê của FAOSTAT năm 2018, Mỹ vẫn đứng đầu trong các cƣờng quốc sản suất ngô trên thế giới với sản lƣợng 392.5 triệu tấn (million metric tons) và đóng vai trò rất quan trọng đóng góp cho nên kinh tế nƣớc này. Khoảng 20% sản lƣợng ngô hàng năm đƣợc Mỹ xuất khẩu.
Diện tích chuyên canh cho cây ngô ở Mỹ là khoảng 96 triệu ha phân bố ở hầu hết các bang của Mỹ. Cƣờng quốc thứ hai là Trung Quốc với sản lƣợng là 257. Mặc dù lúa gạo là thực phẩm chính của quốc gia này, nhƣng mấy năm trở lại đây, sản lƣợng ngô đã tăng lên là do nhu cầu sử dụng ngô trong chăn nuôi tăng lên. Hơn 25 năm qua, sản lƣợng ngô đã tăng 125%, trong khi sản lƣợng lúa chỉ tăng 7%, và hiện nay, khoảng 60% lƣơng thực đƣợc sử dụng cho chăn nuôi.
Brazil cũng là cƣờng quốc thứ ba trong sản xuất ngô với sản lƣợng hàng năm đạt gần 83 triệu tấn (million metric tons). Tiếp theo là Ấn Độ, với sản lƣợng ngô hàng Luan van 6 năm là 42,3 triệu tấn.Tiếp theo trong bảng xếp hạng là Argentina (40 triệu tấn), Ukraine (39.2 triệu tấn), Mexico (32,6 triệu tấn), Indonesia (19 triệu tấn, đứng đầu trong các nƣớc ASEAN, sau đó là Philippines và Việt Nam), Pháp (17,1 triệu tấn), và Nam Phi (15,5 triệu tấn) [6].