Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý khớp gối Khớp gối là một khớp phức hợp có bao hoạt dịch rất rộng, dễ bị sưng và phồng to lại ở nông nên dễ bị va chạm và tổn thương. Khớp gối gồm 2 khớp [46], [77]. - Giữa xương đùi và xương chày (thuộc loại khớp lồi cầu).
- Giữa xương đùi và xương bánh chè (thuộc loại khớp phẳng). Mặt khớp - Đầu dưới xương đùi: có lồi cầu trong và lồi cầu ngoài khớp với 2 mặt khớp lõm đầu trên xương chày. Lồi cầu trong hẹp hơn nhưng dài hơn lồi cầu ngoài. Phía trước 2 lồi cầu dính với nhau tạo thành diện bánh chè.
Phía sau 2 lồi cầu tách xa nhau bởi hố gian lồi cầu. - Đầu trên xương chày: loe thành 2 lồi cầu đỡ lấy xương đùi bằng 2 diện khớp, diện ngoài rộng và nông hơn. Giữa 2 diện khớp có lồi gian lồi cầu chia khoang gian lồi cầu thành vùng gian lồi cầu trước và sau. - Sụn chêm: 2 sụn chêm nằm trên 2 mặt khớp của xương chày làm cho mặt khớp sâu hơn và rộng hơn, sụn ngoài hình chữ O, sụn trong hình chữ C.
- Xương bánh chè: mặt sau xương bánh chè tiếp khớp với ròng rọc xương đùi, đỉnh xương bánh chè là mốc xác định khe khớp gối [15]. Phương tiện nối khớp * Bao khớp - Bao xơ: + Phía xương đùi: bám vào một đường viền trên diện ròng rọc, trên hai lồi cầu và hố gian lồi cầu. + Phía xương chày: bám dưới hai diện khớp. c 4 + Phía trước: bám vào các bờ của xương bánh chè.
+ Phần giữa xương đùi và xương chày bao xơ dính vào sụn chêm chia khớp làm 2 tầng. - Bao hoạt dịch: Phủ mặt trong bao xơ. Phía sau phủ trước dây chằng chéo, phía trước chọc lên cao tạo thành một túi cùng sau cơ tứ đầu đùi.1: Bao hoạt dịch khớp gối [54] * Các dây chằng: Có 5 hệ thống dây chằng - Các dây chằng bên: + Dây chằng bên chày đi từ củ bên lồi cầu trong xương đùi xuống dưới và ra trước bám vào đầu trên xương chày. + Dây chằng bên mác đi từ củ bên lồi cầu ngoài xương đùi xuống dưới và ra sau bám vào chỏm xương mác.
c 5 - Các dây chằng trước: + Dây chằng bánh chè + Mạc giữ bánh chè trong + Mạc giữ bánh chè ngoài + Ngoài ra còn có gân cơ tứ đầu đùi, cơ may và cơ căng mạc đùi tăng cường. - Các dây chằng sau: + Dây chằng khoeo chéo là một chẽ quặt ngược của gân cơ bán mạc, đi từ trong ra ngoài và lên trên, bám vào vỏ lồi cầu ngoài xương đùi. + Dây chằng khoeo cung đi từ chỏm xương mác tỏa thành 2 bó bám vào xương chày và xương đùi, tạo thành một vành cung có cơ khoeo đi qua. - Các dây chằng bắt chéo ở hố gian lồi cầu: + Dây chằng chéo trước đi từ trong lồi cầu ngoài xương đùi tới diện gian lồi cầu trước xương chày.
+ Dây chằng chéo sau đi từ ngoài lồi cầu trong xương đùi tới diện gian lồi cầu sau xương chày. + Hai dây chằng bắt chéo thành hình chữ X, rất chắc giữ cho khớp gối không bị trật theo chiều trước sau. - Các dây chằng sụn chêm: + Dây chằng ngang gối nối 2 sừng trước của sụn chêm với nhau. + Dây chằng chêm đùi trước là một số sợi của dây chằng bắt chéo trước, đi từ lồi cầu ngoài xương đùi tới bám vào sừng trước của sụn chêm trong.
+ Dây chằng chêm đùi sau là một số sợi của dây chằng bắt chéo sau đi từ lồi cầu trong xương đùi tới bám vào sụn chêm ngoài.2: Khớp gối mặt khớp và các dây chằng chéo, bên [54] 1. Chức năng của khớp gối [28] - Chức năng chính của khớp gối là nâng đỡ cơ tể ở tư thế thẳng và đảm nhận sự chuyển động của cẳng chân. - Gấp và duỗi cẳng chân (theo trục ngang: khớp gối gấp tối đa là 135 0 và duỗi là 00). - Xoay vào trong và xoay ra ngoài rất ít quanh trục thẳng đứng.
Bệnh nguyên và bệnh sinh thoái hóa khớp gối 1. Định nghĩa Thoái hóa khớp là hậu quả của quá trình cơ học và sinh học làm mất cân bằng giữa tổng hợp và hủy hoại của sụn và xương dưới sụn (cột sống và đĩa đệm). Sự mất cân bằng này có thể được bắt đầu bằng nhiều yếu tố: di truyền, phát triển, chuyển hóa và chấn thương. Thoái hóa khớp liên quan đến tất cả các mô của khớp động, cuối cùng biểu hiện bởi các thay đổi hình thái, sinh hóa, phân tử và cơ sinh học của đa tế bào và chất cơ bản của sụn dẫn đến nhuyễn hóa, nứt loét và mất sụn khớp, xơ hóa xương dưới sụn, tạo gai xương và hốc xương dưới sụn [2].
Trong thoái hóa khớp, sụn khớp màu vàng nhạt, mờ đục, khô, mềm và mất đàn hồi, mỏng và nứt rạn, có những chỗ bộc lộ cả phần xương nằm dưới, có thể xuất hiện những vết loét ở phần diềm xương chỗ tiếp giáp giữa sụn, xương và màng hoạt dịch có những gai xương mọc ra. Về vi thể: các sợi collagen bị đứt gẫy nhiều tạo thành những bó to chạy song song từ ngoài vào trong, tế bào sụn trở nên thưa thớt, chất cơ bản mất tính đàn hồi đồng nhất, đôi chỗ có những ổ hoại tử, lượng mucopolysaccarid giảm rõ rệt, lượng nước giảm nhiều. Phần xương ở dưới sụn các bè xương tăng lớp và dày lên, một số gẫy đứt, tạo nên những hốc nhỏ trong chứa dịch hoạt dịch, màng hoạt dịch của khớp xơ hóa và xung huyết, lâu dần xơ hóa có thể lan rộng. Những thương tổn giải phẫu bệnh kể trên cắt nghĩa những dấu hiệu thấy trên xquang và lâm sàng.
- Tên gọi của bệnh lý: tùy theo từng nước + Viêm khớp thoái hóa (Osteoarthritis) [42]. + Bệnh viêm thoái hóa khớp (Rheumatism degenerative) [66]. - Trong các tên gọi trên Thoái hóa khớp được nhiều nước quen dùng trong đó có Việt Nam. Phân loại bệnh thoái hóa khớp Năm 1984, Altman và cộng sự đề nghị xếp loại các bệnh thoái hóa khớp thành 2 loại: Thoái hóa khớp gối nguyên phát và thoái hóa khớp gối thứ phát [42].
* Thoái hóa khớp gối nguyên phát Sự lão hóa là nguyên nhân chính, thường ở tuổi trên 50. Nguyên nhân của sự thay đổi này có thể là do lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp giảm ảnh hưởng đến nuôi dưỡng sụn, sự phân bố chịu lực của khớp thay đổi thúc đẩy quá trình thoái hóa [2]. - Yếu tố di truyền: Những yếu tố như hàm lượng collagen và khả năng tổng hợp proteoglycan (PG) của sụn được mang tính di truyền. Một nghiên cứu mới đây phát hiện sự đa dạng về hình thể gen collagen typ 1-2 trong một gia đình mắc bệnh thoái hóa khớp giai đoạn sớm theo nghiên cứu Đoàn Văn Đệ [9] về cơ chế bệnh sinh thoái hóa khớp [7].
* Thoái hóa khớp gối thứ phát - Sau chấn thương: Gãy trên lồi cầu - liên lồi cầu đùi, can lệch, tổn thương sụn chêm, vi chấn thương liên tiếp, biến dạng trục. - Bệnh lý xương sụn: hoại tử xương, hủy hoại sụn do viêm, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp nhiễm khuẩn, bệnh Paget - Bệnh khớp vi thể: Gout mạn tính, canxi hóa sụn khớp - Hemophilie - Bệnh nội tiết: Đái tháo đường, cường giáp, cường cận giáp - Bệnh khớp do chuyển hóa: Alcaptol niệu, bệnh nhiễm sắc tố. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Tổn thương cơ bản trong thoái hóa khớp xảy ra ở sụn khớp. Có 2 giả thuyết được đưa ra: - Thuyết cơ học: dưới ảnh hưởng của các tấn công cơ học, các vi chấn thương gây suy yếu các đám collagen dẫn đến việc hư hỏng các chất proteoglycan trong tổ chức của sụn khớp.
c 9 - Thuyết tế bào: tế bào sụn bị cứng lại do tăng áp lực, giải phóng các enzym tiêu protein, enzym này làm hủy hoại dần các chất cơ bản. * Cơ chế quá trình thoái hóa Mặc dù là quá trình thoái hóa, nhưng trong thoái hóa khớp vẫn có hiện tượng viêm tiến triển thành từng đợt, biểu hiện bằng đau và giảm chức năng vận động của từng khớp tổn thương, tăng số lượng tế bào trong dịch khớp kèm theo viêm màng hoạt dịch kín đáo về tổ chức học. Nguyên nhân có thể do phản ứng của màng hoạt dịch với các sản phẩm thoái hóa sụn, các mảnh sụn xương bị bong ra. * Cơ chế gây đau khớp trong thoái hóa khớp gối Trong thoái hóa khớp gối, đau là nguyên nhân đầu tiên khiến người bệnh đi khám.
Do sụn khớp không có hệ thần kinh, vì vậy đau có thể do các cơ chế sau: - Viêm màng hoạt dịch - Do kích thích của các vết nứt nhỏ ở vùng đầu xương dưới sụn - Mọc gai xương làm kéo căng các đầu mút thần kinh ở đầu xương - Sự co kéo của dây chằng trong khớp - Viêm bao khớp hoặc bao khớp bị căng phồng do phù nề quanh khớp - Các cơ bị co thắt. * Nguyên nhân gây viêm khớp trong thoái hóa khớp - Thoái hóa khớp thuộc nhóm bệnh không do viêm nhưng trên lâm sàng hiện tượng viêm vẫn xảy ra. Viêm có thể do mảnh sụn vỡ, hoại tử trở thành vật lạ trôi nổi trong khớp gây phản ứng viêm thứ phát của màng hoạt dịch. - Tổn thương màng hoạt dịch trong thoái hóa khớp không trầm trọng như tổn thương trong các viêm khớp khác (viêm khớp dạng thấp, viêm màng hoạt dịch thể lông nốt).
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thoái hóa khớp - Yếu tố tuổi: nhiều tác giả khẳng định tần suất thoái hóa khớp tăng dần theo tuổi, lứa tuổi thường gặp từ 45-65 tuổi. Tuy nhiên 90% những người lứa tuổi 40 bắt đầu có những biến đổi của đầu xương và sụn khớp nhưng chưa có biểu hiện lâm sàng. - Cân nặng: béo phì có liên quan chặt chẽ với bệnh thoái hóa khớp gối, việc tăng cân quá mức tỷ lệ thuận với sự tăng các triệu chứng của bệnh. Khi cân nặng giảm được 5 kg sẽ có khả năng giảm được 50% thoái hóa khớp gối.
Nguy cơ thoái hóa khớp gối ở người béo phì tăng 7 lần so với người bình thường. - Yếu tố cơ học và chấn thương: những chấn thương mạnh làm rạn nứt bề mặt sụn có thể là nguồn gốc của bệnh thoái hóa khớp. Những vi chấn thương lặp lại nhiều lần do nghề nghiệp hoặc do chơi thể thao cũng là nguy cơ rất lớn của thoái hóa khớp. - Yếu tố giới: dưới 55 tuổi thoái hóa khớp ở nam bằng nữ, trên 55 tuổi nữ nhiều hơn nam.