Chương 1 đề cập đến bối cảnh, mục tiêu, câu hỏi chính sách, đối tượng, phạm vi, phương pháp, và bố cục nghiên cứu. Chương 2 tổng quan về cơ sở lý thuyết, khung phân tích về sinh kế bền vững, lược khảo những nghiên cứu trước. Chương 3 xác định chiến lược nghiên cứu, thiết kế bảng câu hỏi, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập và phân tích số liệu. Chương 4 tập trung vào kết quả nghiên cứu dựa trên các số liệu đã được thu thập để trả lời các câu hỏi chính sách về nguồn vốn sinh kế, các chính sách tác động đến sinh kế HDT Khmer nghèo.
Chương 5 trình bày kết luận chung và thảo luận các khuyến nghị của tác giả. 4 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Khái niệm về vấn đề nghiên cứu Nghèo là vấn đề kinh tế xã hội phức tạp, đa phương diện và không thu n tuý chỉ là vấn đề kinh tế, cho d thước đo của nó trước hết và chủ yếu dựa vào thước đo về kinh tế được thể hiện qua chỉ số thu nhập hoặc tiêu dùng. Theo tuyên bố của Liên hiệp quốc tháng 6/2008 đã đưa ra khái niệm ngh o đa chiều “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.
Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”. Sinh kế vừa là phương tiện cho cuộc sống vừa là mục tiêu và động lực để con người hướng đến trong quá trình phát triển. Theo Chambers và Conway (1992), sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (gồm cả nguồn lực vật chất và xã hội) và hoạt động c n thiết để kiếm sống.
Một sinh kế trở nên bền vững khi nó ứng phó được với các tác động ngắn hạn và thích nghi được với các ảnh hưởng dài hạn hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng, nguồn lực hiện tại và tương lai mà không làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên (Carney, 1998). Khung phân tích Khung phân tích sinh kế là công cụ nh m giúp tìm hiểu và phân tích sinh kế, đặc biệt sinh kế người nghèo. Khung sinh kế bền vững trình bày những tác nhân chính ảnh hưởng đến sinh kế của con người và mối quan hệ giữa các tác nhân đó. Mục đích của khung sinh kế là chỉ ra những vấn đề quan trọng và phác thảo sự liên hệ giữa chúng, vạch ra sự chú ý đến các ảnh hưởng và tiến trình quan trọng, và nhấn mạnh đa tương tác giữa các nhân tố khác nhau ảnh hưởng sinh kế.
Vì thế, tiếp cận sinh kế được nhiều cơ quan và dự án nghiên cứu phát triển quốc tế sử dụng trong các chương trình phát triển và các dự án phát triển của họ. Mỗi tổ chức có mục tiêu, t m nhìn phát triển khác nhau nên các khung phân tích sinh kế riêng c ng mang tính đặc thù riêng biệt liên quan đến đặc thù của tổ chức mình. 5 Đến cuối thập niên 1990, các khung phân tích sinh kế riêng biệt theo quan điểm và phương pháp của tổ chức được xây dựng như mô hình sinh kế CARE, DFID, OXFAM, UNDP, IFA … ( e Haan, 2012). Tuy nhiên, khung phân tích sinh kế bền vững FI được sử dụng rộng rãi và được nhiều người ứng dụng rất đa dạng (Carney et al., 1999), được ra đời dựa trên khái niệm sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1992) và được phát triển bởi Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID).
Khung phân tích sinh kế bền vững DFID rất hữu dụng trong đánh giá hiệu quả hoặc tác động của các chương trình xóa đói giảm nghèo hoặc cải thiện sinh kế. Vì nó bao gồm các cấu trúc chính với các thành ph n cơ bản của tiếp cận sinh kế, và tính đa dạng của sinh kế được tìm hiểu nhờ vào các phân tích định tính và sự tham gia tại cấp độ cộng đồng. Khung phân tích DFID tập trung vào cách tiếp cận và khả năng sử dụng hiệu quả của người ngh o đối với 5 yếu tố: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tài chính. Bên cạnh đó, khung phân tích này còn phân tích các thể chế, chính sách và tổ chức quyết định đến sự tiếp cận của người dân đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả ảnh hưởng đến sinh kế người dân, đặc biệt đối với nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.1: Khung phân tích sinh kế bền vững DFID (1999) Tài sản sinh kế Các cơ cấu và quy trình chuyển đổi Kết quả CHIẾN sinh kế Vốn con Bối cảnh tổn người ƯỢC thƣơng Cơ cấu SINH - Tăng thu nhập Vốn xã Vốn tự - Chính quyền KẾ - Tăng phúc lợi - Các cú sốc hội các cấp - Giảm tổn nhiên Ảnh hưởng - Khu vực tư thương - Tính mùa vụ & tiếp cận nhân - Cải thiện an - Các xu - Pháp luật ninh lương thực hướng - Chính - Sử dụng Vốn vật Vốn tài sách nguồn lực tự chất - Văn hóa nhiên bền vững chính - Thể chế Quy trình Nguồn: Tác giả vẽ lại theo khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (1999) Theo khung phân tích sinh kế bền vững FI trong hình 2.1 xem x t con người, đặc biệt là người nghèo trong bối cảnh tổn thương tác động đến các tài sản sinh kế, đồng thời con người còn chịu ảnh hưởng bởi môi trường xã hội, thể chế, chính sách hiện hành.
6 Bối cảnh tổn thương do môi trường bên ngoài tác động vào con người đang sinh sống. Các hiểm họa trong bối cảnh tổn thương có thể là các yếu tố tự nhiên hoặc kinh tế xã hội. Đó chính là các xu hướng (xu hướng về dân số, về kinh tế quốc gia hay thế giới, về quản trị, hay về công nghệ,…); các cú sốc do sức khỏe con người, thiên tai, bão l , mâu thuẫn nội chiến, xung đột dân sự, hay dịch bệnh; và tính thời vụ thông qua biến động giá về nông sản, cơ hội việc làm, tiếp cận dịch vụ nông nghiệp,… Tài sản sinh kế là nguồn lực cơ bản của một tác nhân nh m thực hiện, tái sản xuất, ứng phó hoặc thay đổi các nguyên tắc để chi phối sự kiểm soát, sử dụng và chuyển đổi các nguồn lực (Bebbington, 1999). Khung phân tích sinh kế bền vững DFID bao gồm năm loại tài sản sinh kế: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất, và vốn xã hội.
Trong đó, các loại tài sản sinh kế được hiểu chi tiết như sau: Vốn con người thể hiện kỹ năng, tri thức, sức khỏe, khả năng lao động và sự sáng tạo,… nh m giúp họ theo đuổi các chiến lược sinh kế và đạt được những mục tiêu sinh kế của họ là cải thiện cuộc sống tốt hơn. Trong các nghiên cứu của Sen (1981), vốn con người được phân tích rất sâu và tập trung vào tính chủ thể của con người nhờ vào kỹ năng, kiến thức và các nỗ lực của họ nh m tăng thêm khả năng sản xuất hay tiếp cận các tài sản sinh kế. Vì thế, khi các cá nhân bị hạn chế hay không được quyền tiếp cận nguồn lực c n thiết cho cuộc sống, họ sẽ gặp trở ngại trong đảm bảo an toàn sinh kế c ng như thích ứng với các hiểm họa tự nhiên và kinh tế xã hội. o đó, vốn con người c n thiết nhưng chưa đủ để đạt kết quả sinh kết bền vững.
Cải thiện vốn con người sẽ thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn khác. Vốn tự nhiên gồm các loại tài nguyên thiên nhiên được con người khai thác, phục vụ cho hoạt động sống của con người (Slaus và Jacobs, 2011). Có rất nhiều loại tài nguyên cấu thành vốn tự nhiên, từ các tài sản công cộng vô hình như không khí, đa dạng sinh học đến các tài sản có thể thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của cá nhân như cây, đất,. Mối quan hệ giữa vốn tự nhiên và bối cảnh tổn thương rất chặt chẽ với nhau vì có rất nhiều cú sốc tàn phá sinh kế của người nghèo chủ yếu trên nguồn vốn tự nhiên (cháy rừng, l lụt tàn phá đất nông nghiệp) và tính thời vụ làm thay đổi giá trị hoặc tình trạng sản xuất của vốn tự nhiên.
Đối với người nghèo, nguồn vốn tự nhiên rất quan trọng vì sinh kế của họ gắn liền với các hoạt động sản xuất dựa vào tài nguyên thiên nhiên như nông nghiệp. 7 Vốn vật chất bao gồm các kết cấu hạ t ng cơ bản và phương tiện sản xuất c n thiết hỗ trợ sinh kế con người chủ yếu là giao thông thuận tiện, an toàn nhà ở, các cơ sở làm việc, điện, nước sạch và vệ sinh môi trường đ y đủ, năng lượng sạch và tiếp cận thông tin đ y đủ. Vốn tài chính là loại tài sản linh hoạt nhất trong năm loại tài sản sinh kế, là nguồn lực tài chính mà hộ gia đình sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế, như các khoản thu nhập, tiết kiệm, vốn vay, tín dụng, trợ cấp. Đối với cải thiện sinh kế cho người nghèo, việc nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy hay cản trở tiếp cận và sử dụng vốn tài chính là rất quan trọng.
Vốn xã hội bao gồm mạng lưới kết nối, mối quan hệ thành viên và mối quan hệ lòng tin mà các cá nhân dựa vào đó để sử dụng tốt nhất các nguồn lực của cá nhân (Coleman, 1990) hoặc theo đuổi sinh kế bền vững (Ellis, 1999). Đây là sự tương tác giữa hộ nghèo và các đối tượng trong xã hội như quan hệ họ hàng, làng xã hay câu lạc bộ, đội, nhóm. Các thể chế, chính sách của các cấp chính quyền địa phương và các đơn vị, tổ chức thuộc khu vực tư nhân, được cụ thể hóa b ng các luật, chính sách, các chương trình, kế hoạch hành động. Điều này quyết định đến việc tiếp cận tài sản sinh kế của người nghèo, và lợi ích họ nhận được, môi trường đ u tư tư nhân nh m tạo cơ hội cho người nghèo, và quyền của xã hội dân sự.
Chiến lược sinh kế là sự kết hợp các hoạt động và lựa chọn của hộ nh m đạt được các mục tiêu sinh kế.