CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TỪ CÁC DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan ngành thuế Từ năm 1990 thực hiện cải cách thuế bước 1 Hệ thống Thuế Việt Nam được tổ chức thống nhất thành hệ thống dọc từ Trung ương đến các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo Nghị Định số 281/HĐBT ngày 07/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và bộ máy được tổ chức theo mô hình quản lý theo sắc thuế. Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu quản lý và thực tiễn phát triển của các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, tổ chức bộ máy ngành Thuế đã được chuyển dần sang kết hợp giữa mô hình quản lý theo sắc thuế với quản lý thuế theo đối tượng. Năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 218/203/QĐ-TTg ngày 28/10/2003 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính.
Theo đó, bộ máy ngành Thuế được tổ chức theo mô hình quản lý đối tượng kết hợp với quản lý theo một số chức năng. Thực hiện Chiến lược cải cách, hiện đại hoá hệ thống Thuế đến năm 2010 đã được Bộ Chính trị thông qua và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, để tạo điều kiện cho việc thực hiện cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp và đáp ứng yêu cầu quản lý mới theo quy định của Luật Quản lý thuế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/2007 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính, thay thế Quyết định số 218/2003/QĐ-TTg. Theo đó, kể từ ngày 01/7/2007, tổ chức bộ máy cơ quan thuế các cấp đã chuyển đổi hoàn toàn theo mô hình quản lý thuế chủ yếu theo chức năng. 5 Ngày 28/9/2009, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính thay thế Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg.
Về cơ bản, Quyết định 115/2009/QĐ-TTg giữ nguyên các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục Thuế và xác định mô hình tổ chức ngành Thuế là quản lý theo chức năng, chỉ thay đổi tên gọi của một số đơn vị thuộc Tổng cục Thuế. Đến nay, nhìn chung tổ chức bộ máy cơ quan thuế các cấp với mô hình quản lý theo chức năng đã đi vào hoạt động ổn định, đạt được những kết quả nhất định trên các mặt công tác. Về cơ cấu tổ chức hiện tại như sau: * Cấp Tổng cục Thuế: gồm 18 Vụ và đơn vị trực thuộc * Cấp Cục Thuế: gồm 63 Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc TW được tổ chức 727 phòng chuyên môn nghiệp vụ theo chức năng và quản lý nội bộ. * Cấp Chi cục Thuế: gồm 694 Chi cục Thuế các quận, huyện, thị xã với 5.995 Đội thuế, Ngành thuế đã thành lập và kiện toàn đầy đủ, cơ bản các bộ phận quản lý thuế theo chức năng ở cơ quan thuế các cấp để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy định tại Luật Quản lý thuế.
Ngoài các bộ phận thực hiện các chức năng quan lý thuế cơ bản (Tuyên truyền giáo dục pháp luật thuế và hỗ trợ người nộp thuế, Xử lý tờ khai và kế toán thuế, Quản lý nợ thuế và cưỡng chế thu nợ thuế, Thanh tra, kiểm tra thuế), cơ cấu tổ chức còn gồm một số bộ phận thực hiện việc quản lý các sắc thuế đặc thù hoặc thực hiện các chức năng phục vụ cho quản lý thuế (Quản lý thuế thu nhập cá nhân; Pháp chế, chính sách, quản lý cán bộ, Dự toán thu thuế, Tài vụ, quản trị, Kiểm tra nội bộ. Mô hình tổ chức bộ máy ngành thuế Việt Nam hiện nay) 6 Sơ đồ 1. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý ngành thuế Việt Nam TỔNG CỤC TRƯỞNG Bộ phận quản lý theo chức năng Vụ Bộ phận PC-CS Bộ phận Quản lý nội bộ Ban Vụ Đơn vị sự nghiệp Cải TỔNG Dự Vụ Vụ Cục cách Hợp Vụ Vụ Kê Vụ Vụ Văn Vụ Tài Trường Tạp Tuyên Quản toán Quản Quản Công phòng và tác CỤC khai Chính lý thuế lý thuế nghệ vụ- nghiệp chí truyền lý nợ (có đại hiện Thanh thu Vụ thu doanh thông Vụ Vụ Tổ quốc THUẾ -Hỗ và Kế và sách diện tại Quản đại vụ thuế thuế trợ cưỡng tra thuế Pháp nhập nghiệp tin Kiểm tra chức cán tp toán trị hoá tế NNT chế nợ thuế cá lớn HCM) chế nhân nội bộ bộ thuế thuế CỤC TRƯỞNG CỤC Bộ phận quản lý theo chức năng Phòng Phòng Bộ phận Quản lý nội bộ THUẾ Quản Tổng hợp Phòng Phòng Phòng Một Một lý thuế Phòng Phòng Phòng - Nghiệp Phòng Tuyên Kê Quản lý số số thu nhập Tin Kiểm Tổ chức Hành truyền khai nợ và Phòng Phòng vụ - Dự -Hỗ và Kế cưỡng Kiểm thanh cá tra nội cán bộ chính- toán học trợ toán chế nợ tra tra nhân bộ Quản trị NNT thuế thuế thuế thuế -Tài vụ- CHI CỤC TRƯỞNG Chú thích: CHI CỤC Bộ phận quản lý theo chức năng Đội Đội Đội 1 Đội Đội hành Chỉ đạo trục tiếp THUẾ Tổng Trước Đội Quản Tin chính- Đội Đội Đội hợp- lý thuế học thuế Hướng dẫn nghiệp vụ Tuyên Kê Quản lý Đội Đội Nghiệp bạ và thu thuộc Đội Nhân sự- truyền khai nợ và Kiểm thanh liên xã nhập Đội kê kiểm theo từng chức năng vụ- Dự thu Tài vụ- -Hỗ và Kế cưỡng tra tra cá khai, tra nội toán khác phường nhân kế toán Quản trị - trợ toán chế nợ thuế thuế bộ NNT thuế thuế thuế Ấn chỉ Bộ máy quản lý tổ chức theo hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương, phản ánh đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, có phân công, phân cấp rõ ràng giữa cơ quan Thuế các cấp và trong từng cấp; thể hiện rõ vai trò chỉ đạo điều hành của cơ quan thuế cấp trên đối với cơ quan thuế cấp dưới. Thực hiện quản lý thuế theo chức năng là nhằm thực hiện cơ chế: Cơ sở kinh doanh tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp thuế vào NSNN.
Theo kinh nghiệm của các nước và qua triển khai thí điểm đã khẳng định việc thực hiện cơ chế: Cơ sở kinh doanh tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp vào NSNN và tổ chức bộ máy quản lý thuế theo mô hình chức năng là phù hợp và ưu việt với công tác quản lý thuế của Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Những vấn đề chung về thuế Thuế là khái niệm rất quen thuộc với mọi người, nhưng hiểu rõ về thuế thì không phải ai cũng rõ. Trong thực tế, thuế là một hiện tượng xã hội do con người đặt ra, nó gắn liền với đời sống KT- XH, với Nhà nước và pháp luật. Thuế ra đời do nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và sự tồn tại của nó không tách rời quyền lực nhà nước.
Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước. Do đó, thuế là một phạm trù kinh tế, đồng thời là một phạm trù lịch sử. Khái niệm thuế Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm về Thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt. Theo Mác – Ăng ghen thì: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là Thuế khoá.
Với quan điểm này, Thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực nhà 1 Ăng Ghen:nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và nhà nước ; NXB Sự Thật, Hà Nội 1962, Tr522 7 nước. Mác phát triển thêm rằng trong một nhà nước có giai cấp thì Thuế thực ra là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp thống trị. Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế. Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu lên trong cuốn sách "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ Makkhell và Bruy thì: "Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật" 2.
Theo quan điểm này, người ta chỉ nhìn nhận thuế trên giác độ các đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc đánh thuế như là một nghĩa vụ công dân của các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nước mà mình đang kinh doanh hoặc đang sinh sống. Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định lúc đó. Trên giác độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”3. Trên giác độ người nộp thuế, Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước.
Trên giác độ kinh tế học, Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước. 2 Economics - Makkhell và Bruy –M.aspx 8 Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Theo từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học (1998): “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp v. buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định.