CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ, KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về thuế 1. Khái niệm Thuế ra đời cùng với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Cho đến hiện nay, khái niệm về thuế vẫn chưa có được sự thống nhất tuyệt đối.
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn Tài chính công: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”. Nhà kinh tế học người Anh David Ricardo (1772-1823) nói rằng: “Thuế được cấu thành từ phần của Chính phủ lấy trong sản phầm đất đai và lao động trong nước và xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”. Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có khái niệm thống nhất về thuế. Giáo trình Thuế, Th.S Khúc Đình Nam, Nhà xuất bản lao động, năm 2012, có nêu: “ Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp cho các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực, nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước” 1.
Đặc điểm Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng của nó, qua đó ta có thể phân biệt thuế với những công cụ khác. Thuế mang ba đặc điểm chủ yếu, đó là: tính bắt buộc, tính pháp lý và tính không hoàn trả trực tiếp. Thứ nhất, thuế mang tính bắt buộc. Đây là thuộc tính cơ bản để phân biệt thuế với các hình thức động viên tài chính khác của NSNN.
SVTH: Lê Thị Phương Len – K45A KTKT 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Ngọc Thứ hai, thuế mang tính pháp lý. Thuế được đảm bảo bằng quyền lực chính trị đặc biệt của nhà nước. không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người nộp thuế.
Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của họ mà chỉ có quyền chấp thuận.Những ai vi phạm pháp luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế. Thứ ba, thuế là một khoản thu không có đối khoán cụ thể, không hoàn trả trực tiếp. Nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả, mà đều được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế mà một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng.
Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không có bất kỳ hứa hẹn cung ứng dịch vụ công; sau khi nộp thuế, không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế, người nộp thuế có thể sẽ nhận lại một phần các dịch vụ công mà Nhà nước cung cấp chung cho toàn xã hội và giá trị dịch vụ này không nhất thiết tương đồng với các khoản thuế mà họ đã nộp vào ngân sách. Vai trò của thuế đối với nền kinh tế quốc dân Thứ nhất, thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung vào một phần của cải vật chất trong xã hội vào NSNN. Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối với các pháp nhân và thể nhân trong xã hội.
Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu NSNN. Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế. Thuế đã điều chỉnh được hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dung xã hội. Đây là nguồn thu chính của NSNN.
Thứ hai, thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Thông qua các quy định của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, SVTH: Lê Thị Phương Len – K45A KTKT 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Ngọc phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm thuế… Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế. Vai trò này của pháp luật thuế được thể hiểm ở điểm: pháp luật thuế là công cụ tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội.
Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng. Thứ ba, thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội. Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động giống nhau. Bên cạnh đó, sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau, để khắc phục những sự mất cân đối về mặt xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập.
Nhà nước sử dụng pháp luật thuế làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội: thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập của các đối tượng nộp thuế và các thành viên trong xã hội. Đây chính là vai trò phân phối lại thu nhập của thuế. Các yếu tố cấu thành một sắc thuế Tên gọi của sắc thuế Tên gọi của sắc thuế phản ánh nội dung chính của từng loại thuế và để phân biệt với những loại thuế khác nhau. Tên sắc thuế thường được đặt theo đối tượng đánh thuế (thuế TNDN, thuế Thu nhập cá nhân, …), theo từng mặt hàng (thuế rượu, thuế thuốc lá…) hoặc theo nội dung (thuế Tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu…).
Đối tượng nộp thuế Đối tượng nộp thuế là các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp thuế cho Nhà nước khi có các điều kiện được dự liệu trong luật thuế. Đối tượng chịu thuế Đối tượng chịu thuế là đối tượng được đưa ra để tính thuế. Mỗi sắc thuế có đối tượng chịu thuế riêng. Xác định thuế được đánh trên loại đối tượng nào (hàng hóa, dịch vụ) hoặc thuế không được đánh vào đối tượng nào.
SVTH: Lê Thị Phương Len – K45A KTKT 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Ngọc Cơ sở tính thuế Cơ sở tính thuế là số lượng đơn vị (theo giá trị hoặc theo đơn vị vật lý) của đối tượng chịu thuế. Mỗi sắc thuế có một cơ sở tính thuế riêng. Mức thuế Mức thuế thể hiện mức độ động viên của Nhà nước trên một đơn vị so với cơ sở tính thuế và được biểu hiện dưới hình thức thuế suất hay định thuế suất.
- Thuế suất nhất định: là 1 thuế áp dụng cho một đối tượng tính thuế nhất định. - Thuế suất lũy tiến: là thuế suất tăng dần theo mức độ tăng của đối tượng tính thuế. Nguyên tắc xây dựng thuế suất là phải phù hợp với khả năng thu thuế, đảm bảo nguồn lực cho NSNN và phát triển sản xuất kinh doanh. Chế độ ưu đãi, miễn giảm thuế Miễn và giảm thuế là yếu tố ngoại lệ được quy định trong các Luật Thuế.
Chế độ miễn giảm được áp dụng đối với các pháp nhân và thể nhân là đối tượng nộp thuế nhưng có các dấu hiệu và sự kiện được dự liệu trong luật thuế, thì được giảm một phần số thuế phải nộp hoặc được miễn nộp thuế theo thời hạn do từng luật thuế quy định. Những nội dung cơ bản của thuế Giá trị gia tăng 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế Giá trị gia tăng Khái niệm “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của HHDV phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đặc điểm Thuế GTGT là một loại thuế gián thu.
Thuế GTGT được cộng vào giá cả hàng hóa, dịch vụ, do đó gánh nặng thuế được chuyển từ người nộp thuế sang người chịu thuế. Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp. Thuế GTGT không đánh trên toàn bộ hàng hóa mà chỉ đánh vào phần thuế GTGT qua các khâu và chưa bị đánh thuế. SVTH: Lê Thị Phương Len – K45A KTKT 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Phạm Thị Bích Ngọc Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao. Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT không ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, sản phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn không thay đổi. Thuế có tính chất lũy thoái so với thu nhập.
Đối với người tiêu dùng trong thuế GTGT không có phân biệt người có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu số thuế như nhau. Do đó, người nào có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ thuế phải nộp trên thu nhập lại thấp hơn và ngược lại. Đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế và đối tượng không thuộc diện đối tượng chịu thuế Đối tượng nộp thuế “Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh HHDV chịu thuế GTGT (cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (người nhập khẩu). Đối tượng chịu thuế “HHDV sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này.
Đối tượng không chịu thuế HHDV không chịu thuế mang những tính chất sau: - Mang tính chất thiết yếu. - Thuộc các hoạt động ưu đãi vì mục tiêu xã hội, nhân đạo.