CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ TƯ VẤN THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi là doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé cả về vốn, lao động và doanh thu. Căn cứ vào quy mô có thể chia doanh nghiệp nhỏ và vừa thành 3 loại: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có dưới 10 lao động; doanh nghiệp nhỏ có từ 10 đến 200 lao động và nguồn vốn dưới 20 tỷ đồng; doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động, nguồn vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng. Theo Nghị định 90/2001-NĐ/CP ngày 23-11-2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, với tiêu chí quy mô vốn pháp định của doanh nghiệp dưới 10 tỷ đồng, số lượng lao động sử dụng dưới 300 lao động/năm thì hiện nay khoảng 97% các doanh nghiệp của Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ yếu thuộc khu vực kinh tế tư nhân.
Điều này phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay, nhất là giai đoạn đầu của quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN. Về lĩnh vực hoạt động, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong khu vực thương mại và dịch vụ (81%), còn lại hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng. Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ, nếu doanh nghiệp có từ trên 10 đến 200 lao động là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và doanh nghiệp có số lao động từ trên 200 đến 300 là doanh nghiệp có quy mô vừa. Định nghĩa trên áp dụng cho tất cả các ngành trừ thương mại và dịch vụ.
Đối với ngành thương mại và dịch vụ, doanh nghiệp nhỏ có số lao động từ trên 10 đến 50, doanh nghiệp vừa có số lao động từ trên 50 đến 100. Căn cứ Điều 4 Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017, doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có 5 số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: - Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; - Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ. Cụ thể về khái niệm này, theo Nghị định số 80/2021/NĐ-CP, doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và xây dựng có khác biệt so với doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ.
Về lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và xây dựng, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động không quá 10 người và tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn của năm nhỏ hơn 3 tỷ đồng; doanh nghiệp quy mô nhỏ là dưới 100 lao động và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng; còn doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có ít hơn 200 người và tổng doanh thu của năm nhỏ hơn 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm nhỏ hơn 100 tỷ đồng. Về lĩnh vực thương mại và dịch vụ, doanh nghiệp siêu nhỏ có ít hơn 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm dưới 3 tỷ đồng; doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp đáp ứng có dưới 50 người và tổng doanh thu của năm thấp hơn 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm dưới mức 50 tỷ đồng; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có không quá 100 người và tổng doanh thu của năm nhỏ hơn 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm nhỏ hơn mức 100 tỷ đồng. Báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nhiệm kỳ 2016 – 2021 cho thấy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế, như chiếm trên 40% GDP, 31% giá trị xuất khẩu, hơn 29% các khoản nộp ngân sách, tạo việc làm cho khoảng 62% tổng số lao động cả nước. Do đó, mặc dù kinh tế tư nhân có bước phát triển quan trọng trong thời gian qua, chiếm tỷ trọng 40-43% GDP hiện nay, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt 6 Nam còn nhiều hạn chế, chưa phát triển lớn mạnh, đang gặp nhiều khó khăn như những vấn đề về sản xuất kinh doanh, tâm lý xã hội, cơ chế chính sách, quản lý nhà nước và đứng trước thách thức to lớn về thị trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng tăng trưởng.2 Tiêu chí xác định Căn cứ vào Điều 5 chương II Nghị định số 80/2021/NĐ-CP về tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa, “doanh nghiệp nhỏ và vừa” được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa.
Cụ thể như sau: “1. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng 7 hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.3 Vai trò Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có những vai trò chủ lực bao gồm: - Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp. Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và số lượng thu hút việc làm là rất đáng kể.
- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế. - Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
- Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương. - Đóng góp không nhỏ giá trị GDP cho quốc gia.2 Thuế xuất nhập khẩu 1.1 Khái niệm Thuế là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế của nhà nước mà bất kỳ tổ chức cá nhân nào cũng có nghĩa vụ phải nộp khi có đủ những điều kiện nhất định. Căn cứ vào cách phân loại, có rất nhiều loại thuế trong hệ thống thuế của một quốc 8 gia như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp,… Một trong số đó không thể không nhắc đến là thuế xuất nhập khẩu, đây là loại thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn lực tài chính công cho đất nước. Với từng góc độ tiếp cận khác nhau, có nhiều khái niệm khác nhau để nói về thuế XNK.
Đầu tiên, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Và nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Vì thế, thuế xuất nhập khẩu hay thuế xuất – nhập khẩu là tên gọi chung để gọi hai loại thuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Đó là thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu.
Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu. Thuế xuất khẩu là loại thuế đánh vào những mặt hàng mà Nhà nước muốn hạn chế xuất khẩu. Chỉ có một số mặt hàng phải chịu thuế xuất khẩu, chủ yếu là tài nguyên thiên nhiên như cát, đá phấn, đá cẩm thạch, đá granit, quặng, dầu thô, lâm sản, và phế liệu kim loại, v. Mức thuế suất giao động từ 0% đến 40%.