mở đầu cho thời kỳ đổi mới, Nhà nước đã đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức sở hữu khác nhau, thay đổi quan điểm với kinh tế tư nhân, từ kỳ thị chuyển sang coi trọng. Chủ chương này đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt cơ sở sản xuất tư nhân, cá thể, hộ gia đình kinh doanh ngành công nghiệp, dịch vụ, thương mại ra đời và phát triển. Từ chủ trương trên, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, quy định chế độ chính sách đối với hộ gia đình, hộ cá thể, DN tư nhân, hợp tác xã, DN Nhà nước, như: Nghị quyết 16 của Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam (1988); Nghị định 27, 28,29/HĐBT (1988) về kinh tế cá thể, kinh tế hợp tác và hộ gia đình; Nghị định 66/HĐBT về nhóm kinh doanh dưới vốn pháp định, Công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/1998 về định hướng chiến lược và chính sách phát triển DNV&N. Các Luật như: Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân (hai luật này được gộp lại thành Luật doanh nghiệp (1999)), Luật hợp tác xã, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật khuyến khích đầu tư trong nước (1994), Luật đầu tư nước ngoài (1989) đã tạo điều kiện và là môi trường thuận lợi cho DN nói chung và các DNV&N nói riêng phát triển.
Giai đoạn từ năm 2000 đến nay: Giai đoạn này, nhiều cơ quan khoa học, cơ quan quản lý và nhiều địa phương nghiên cứu về DNV&N, như: Bộ Kế hoạch & Đầu tư (MPI); Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương(CIEM); Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI)… Có nhiều cuộc hội thảo trong nước và quốc tế được tổ chức bàn về chính sách hỗ trợ DNV&N và có nhiều tổ chức quốc tế, các dự án hỗ trợ về tài chính và khoa học cho các DNV&N. Một số trung tâm hỗ trợ các DNV&N ra đời, như: Trung tâm xúc tiến DNV&N - Phòng Thương mại và 7 Công nghiệp Việt Nam; Trung tâm hỗ trợ DNV&N thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng (SMEDEC); Trung tâm dịch vụ và hỗ trợ DNV&N (BPSC)… Trong quá trình phát triển của mình, DNV&N vẫn gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Để tháo gỡ những khó khăn này và nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế của đất nước, Chính phủ đã có Nghị định 90/2011/CP-ND ngày 23/11/2011 về chính sách trợ giúp, phát triển DNV&N. Trong đó, quy định rõ khái niệm, tiêu chí xác định DNV&N ở Việt Nam, khẳng định tầm quan trọng của DNV&N trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước và các biện pháp, các chính sách hỗ trợ DNV&N phát triển.
Chính phủ giao cho Bộ Kế hoạch & Đầu tư làm đầu mối phối hợp các Bộ, các ngành và địa phương tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh dự thảo “Chiến lược và chính sách phát triển DNV&N”, đề xuất giải pháp thực hiện trình Chính phủ xem xét và phê duyệt. Từ những chủ trương kịp thời nêu trên, với những chính sách phù hợp, sự trợ giúp đắc lực của Chính Phủ và các cấp chính quyền, số lượng DN của các thành phần kinh tế có sự biến động rất lớn. Số lượng DNV&N trong khu vực Nhà nước giảm, số lượng DNV&N trong khu vực tư nhân tăng nhanh. Quan niệm về kinh tế tư nhân có nhiều thay đổi: Không còn cái nhìn kỳ thị như trong giai đoạn bao cấp, coi kinh tế tư nhân là một loại hình kinh tế tiêu cực, là bóc lột… Đến nay, kinh tế tư nhân thực sự đã được coi là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam.
Trong vòng một năm kể từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực từ 01/01/2000, đã có khoảng 14.417 doanh nghiệp mới được thành lập với tổng vốn đăng ký đến hơn 24. Đến năm 2012 số DNV&N là hơn 500.000 doanh nghiệp, tổng số vốn các DN đăng ký đạt khoảng 2. Xuất phát từ điều kiện lịch sử kinh tế - xã hội, hiện nay DNV&N ở Việt Nam có mặt ở hầu hết các ngành kinh tế, trong đó phần lớn tập trung trong ba lĩnh vực chính: DNV&N trong lĩnh vực công nghiệp; DNV&N trong thương mai dịch vụ; DNV&N hoạt động ở khu vực nông thôn. Một số chính sách của Nhà nước tác động đối với DNV&N.
Những yếu tố quan trọng tác động đến sự tồn tại và phát triển của các DNV&N là cơ chế chính sách kinh tế - tài chính và hành lang pháp lý cho hoạt động 8 của các DNV&N. Dưới đây là những nét khái quát về một số chính sách vĩ mô tác động đến hoạt động và phát triển của DNV&N Việt Nam. Chính sách thương mại. Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 20/6/1999, có hiệu lực từ 1/1/2000 đã luật hoá các quy định thành lập DN theo hướng bãi bỏ cơ chế xin phép thành lập, chủ đầu tư chỉ đăng ký kinh doanh với hồ sơ hết sức đơn giản, xoá bỏ mọi kiểm tra kiểm soát trước khi thành lập, tạo điều kiện cho phép chủ đầu tư nhanh chóng tiếp cận thị trường, việc giám sát kiểm tra của Nhà nước chuyển sang giai đoạn sau đăng ký kinh doanh.
Luật Doanh nghiệp cũng xoá bỏ vốn pháp định ở hầu hết các ngành nghề (còn áp dụng với một số ngành nghề: Ngân hàng, Bảo hiểm.), đã tạo điều kiện cho các DNV&N ra đời thuận lợi, giảm tối thiểu các chi phí cho việc thành lập DN. Sự đổi mới chính sách thương mại theo hướng “mở cửa”, không ngừng đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài với chiến lược vốn đầu tư trong nước có vai trò quyết định, vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng đã là một trong những nhân tố quyết định trong đổi mới kinh tế, đóng góp đáng kể vào tình hình đổi mới kinh tế ở Việt Nam trong những năm gần đây. Chính sách thương mại của Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong suốt giai đoạn vừa qua, đặc biệt với sự ra đời của Luật thương mại có hiệu lực từ 01/01/1998 và nghị định số 57/CP hướng dẫn thi hành Luật thương mại ngày 31/7/1998 đã cải thiện đáng kể các điều kiện tiếp cận thương mại quốc tế của các DNV&N. Đồng thời, việc tham gia vào hàng loạt các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và thế giới, như: ASEAN(1995), APEC(1998)…, đặc biệt là ký được Hiệp định thương mại song phương với Hoa kỳ vào 20/7/2001 đã mở đường cho Việt Nam gia nhập WTO (11/1/2007).
Chính sách thương mại đã được cụ thể hoá bằng nhiều biện pháp cải tổ thương mại theo hướng tự do hơn, hội nhập hơn cũng là những thuận lợi và cũng là chứa đựng những thách thức không nhỏ đối với DN nói chung và DNV&N nói riêng. Chính sách tài chính tiền tệ. Chính sách đầu tư. Về đầu tư trong nước: Luật khuyến khích đầu tư trong nước (ban hành ngày 22/6/1994, sửa đổi ngày 20/5/1998) và Nghị định hướng dẫn Luật đã đề ra nhiều chính sách cụ thể hỗ trợ các DN trong nước nói chung và các DNV&N nói riêng là một đối trọng quan trọng đối với Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Luật đầu tư có những quy định, những điều khoản khuyến khích đầu tư trong nước, tạo điều kiện cho các DNV&N tiến hành đầu tư, như: Mở rộng chủ thể đầu tư sang cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu tại Việt Nam. Người nước ngoài, tổ chức kinh tế nước ngoài được phép góp vốn, mua cổ phần đầu tư vào DN Việt Nam (không quá 30% vốn điều lệ). Thành lập các quỹ hỗ trợ, như: Quỹ hỗ trợ đầu tư cho vay với lãi suất ưu đãi; Quỹ hỗ trợ xuất khẩu; Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ. Luật đã qui định rõ những lĩnh vực đầu tư, các vùng được ưu đãi kèm theo các chính sách ưu đãi như hỗ trợ mặt bằng kinh doanh, hỗ trợ vốn, ưu đãi thuế, đào tạo.
Bước đầu, các DNV&N đã tiếp cận được một số nguồn hỗ trợ để phát triển sản xuất. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại, như: Việc so với thực tế cần hỗ trợ của DNV&N thì còn nhỏ bé và dàn trải; Vẫn còn thiếu cơ chế pháp lý để khuyến khích đầu tư trong nước đối với thành phần kinh tế trang trại là các DNV&N ở nông thôn; Chính sách khuyến khích đầu tư trong nước chưa tạo cơ hội cho DN ít vốn, khả năng tài chính chưa cao mà chỉ quan tâm đến các chủ thể kinh doanh những ngành nghề mà Nhà nước khuyến khích; Một số quy định tồn tại mà chỉ có Doanh nghiệp Nhà nước và một số DN có điều kiện mới thực hiện được, còn các DNV&N nói chung thì rất khó tiếp cận. Về đầu tư nước ngoài: Trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay, việc khai thác và tận dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ bên ngoài như nguồn vốn đầu tư trực tiếp, nguồn vốn viện trợ phát triển của các tổ chức tài chính quốc tế. có vai trò rất quan trọng.
Chính phủ có những chính sách, những quan điểm khẳng định tầm quan trọng của nguồn vốn bên ngoài. Luật đầu tư nước ngoài ban hành vào năm 1989, được sửa đổi vào các năm 1992, 1994, 1996 và bên cạnh đó là rất nhiều văn bản, thông tư hướng dẫn mà mới nhất là Nghị định số 24/2000/ND - CP ngày 31/7/2000 10 của Chính phủ quy định chi tiết thi thành Luật đầu tư nước ngoài. Tất cả cũng đã tạo điều kiện khuyến khích, hỗ trợ tối đa để thu hút nguồn vốn từ bên ngoài. Sự nỗ lực của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc hợp tác với Tổ chức đảm bảo đầu tư đa biên (MIGA) để tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi hơn cho cả đầu tư trong và ngoài nước.
Chính sách tín dụng. Hoạt động hỗ trợ tín dụng của Nhà nước đối với các DNV&N được quy định cụ thể tại Nghị định 43/1999/ND - CP ngày 29/6/1999 về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một bước tiến quan trọng trong việc thống nhất cơ chế, thể lệ tín dụng và đầu mối cho vay đầu tư phát triển Nhà nước.