Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác thanh tra, kiểm tra thuế GTGT đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng về công tác thanh tra, kiểm tra thuế GTGT đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Vĩnh Yên. Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế GTGT đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên.
4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.1 Trong đó, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi.
Nhƣ vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Có nhiều quan niệm khác nhau về DNNVV. Song, xét một cách chung nhất, DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về vốn, lao động hay doanh thu hoặc cả ba. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có dƣới 10 lao động, doanh nghiệp nhỏ có số lƣợng lao động từ 10 đến dƣới 50 ngƣời, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Mỗi nƣớc có tiêu chí riêng để xác định DNNVV nƣớc mình. 1 Theo Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006, đƣợc sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tƣ xây dựng cơ bản, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2009&Luật số 37/2013/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung Điều 170 của Luật doanh nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2013.: 5 Ở Việt Nam, theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính Phủ, Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên), cụ thể nhƣ sau: Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số Tổng Số Tổng Số Khu vực lao động nguồn vốn lao động nguồn vốn lao động Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 I. Nông, lâm 10 ngƣời 20 tỷ đồng ngƣời đến đồng đến 100 ngƣời đến 300 nghiệp & thủy sản trở xuống trở xuống 200 ngƣời tỷ đồng ngƣời Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 II.
Công nghiệp & 10 ngƣời 20 tỷ đồng ngƣời đến đồng đến 100 ngƣời đến 300 xây dựng trở xuống trở xuống 200 ngƣời tỷ đồng ngƣời Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ III. Thƣơng mại 10 ngƣời 10 tỷ đồng Từ trên 50 ngƣời ngƣời đến đồng đến 50 & dịch vụ trở xuống trở xuống đến 100 ngƣời 50 ngƣời tỷ đồng 1. Những đặc điểm ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra của doanh nghiệp vừa và nhỏ * Chính sách thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Bộ Tài chính đã ban hành Thông tƣ hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 121/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 123/2008/NĐ-CP về thuế giá trị gia tăng. Nghị định số 121/2011/NĐ-CP đã bổ sung nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nhƣ: Thuế giá trị gia tăng đầu vào một số hoạt động không phải kê khai nộp thuế đƣợc khấu trừ toàn bộ; đƣợc bù trừ âm của phƣơng pháp trực tiếp; hoạt động chế tác vàng áp dụng phƣơng pháp trực tiếp; kinh doanh ngoại tệ thuộc đối tƣợng không áp dụng thuế giá trị gia tăng; chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu, 6 thuế giá trị gia tăng đầu vào của hoạt động đầu tƣ đƣợc kê khai khấu trừ bổ sung không bị giới hạn bởi thời hạn 6 tháng kể từ tháng phát sinh.
năm 2012 nền kinh tế nƣớc ta vẫn còn nhiều khó khăn, vì vậy các đối tƣợng doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động hoạt động trong một số lĩnh vực nêu trên vẫn tiếp tục gặp khó khăn, cần đƣợc tiếp tục hỗ trợ thông qua các công cụ và chính sách tài chính, tiền tệ. Theo đó, để hỗ trợ các đối tƣợng này trong lĩnh vực thuế, Bộ Tài chính đã trình Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 04/2012/QĐ-TTg ngày 19/01/2012 về việc gia hạn nộp thuế thêm 03 tháng với số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp quý I, quý II năm 2011 của doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động. Gia hạn nộp thuế này sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đã đƣợc gia hạn nộp thuế TNDN năm 2011 nay đƣợc tăng thêm thời gian gia hạn có thêm vốn để ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh (Nguồn: Bộ Tài chính). * Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung doanh nghiệp có quy mô lớn đƣợc ƣu tiên phát triển bởi doanh nghiệp có quy mô lớn có vị trí quan trọng hơn trong nền kinh tế, đƣợc ƣu đãi về vốn, vật tƣ, thiết bị & có mức lƣơng cao hơn các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhƣng từ khi chuyển sang cơ chế thị trƣờng, các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (DNNVV) lại chiếm ƣu thế. Xu hƣớng này là do bởi những ƣu điểm sau của DNNVV: - Các DNVVN năng động,linh hoạt trƣớc những thay đổi của thị trƣờng, đặc biệt là nhu cầu nhỏ, lẻ, có tính địa phƣơng do DNNVV có khả năng chuyển hƣớng kinh doanh và chuyển hƣớng mặt hàng nhanh, tăng giảm lao động dễ dàng, nơi làm việc của ngƣời lao động có tính ổn định và ít bị đe doạ mất nơi làm việc. Thực tế không những đúng với nƣớc ta mà còn đúng với các nƣớc khác ở trên thế giới. - Ngƣời lao động ở các doanh lớn dễ bị mất việc làm hơn,đặc biệt có suy thoái kinh tế.
7 - Tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý linh hoạt, gọn nhẹ, các quyết định quản lý thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp. Qua đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. - Vốn đầu tƣ ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi nhanh, điều đó tạo sức hấp dẫn trong đầu tƣ sản xuất kinh doanh, mọi thành phần kinh tế vào khu vực này. Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm tích cực trên thì các DNNVV vẫn còn tồn tại một số hạn chế: - Nguồn vốn tài chính hạn chế, đặc biệt nguồn vốn tự có cũng nhƣ bổ xung dể thực hiện quá trình tích tụ, tập trung nhằm duy trì hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ kỹ thuật thƣờng yếu kém, lạc hậu. Nhà xƣởng, nơi làm việc trực tiếp và trụ sở giao dịch, quản lý của đa phần các doanh nghiệp nhỏ rất chật hẹp. - Trình độ quản lý nói chung và quản trị các mặt theo các chức năng còn hạn chế. Đa số các chủ doanh nghiệp nhỏ chƣa đƣợc đào tạo cơ bản, đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trƣờng, về quản trị kinh doanh, họ quản lý bằng kinh nghiệm và thực tiễn là chủ yếu.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp Các cơ sở doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thích hợp với các phƣơng pháp tiết kiệm vốn và do đó chúng đƣợc công nhận là phƣơng tiện giải quyết thất nghiệp hiệu quả nhất. Thứ nhất, do đặc tính phân bố rải rác của chúng. Các doanh nghiệp loại này thƣờng phân tán nên chúng có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tƣợng lao động, đặc biệt là với các vùng sâu, vùng xa, vùng chƣa phát triển kinh tế, với các đối tƣợng lao động có trình độ tay nghề thấp. Nhờ vậy chúng vừa giải quyết thất nghiệp vừa góp phần giảm dòng ngƣời chuyển về thành phố tìm việc làm.
8 Thứ hai, do tính linh hoạt, uyển chuyển dễ thích ứng với các thay đổi của thị trƣờng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong trƣờng hợp có biến động xảy ra, các doanh nghiệp lớn sẽ đối phó khá chậm chạp, không phải vì cấp quản lý bất tài mà bởi vì doanh nghiệp lớn thì khó xoay trở nhanh. Họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động, sau đó sẽ phải sa thải bớt lao động để cắt giảm chi phí đến mức có thể tồn tại và phát triển đƣợc trong điều kiện cung lớn hơn cầu. Trong khi đó do khả năng linh hoạt, có thể thích ứng nhanh với thay đổi của thị trƣờng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn có thể tồn tại đƣợc mà không phải sử dụng đến biện pháp cắt giảm lao động.
- Cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hoá đáng kể về cả chất lượng, số lượng và chủng loại Các công ty, doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút một lƣợng lớn lao động và tài nguyên của xã hội để sản xuất ra hàng hoá. Để có thêm sức cạnh tranh trực tiếp với các công ty và tập đoàn lớn, hàng hoá của họ nói chung thiên về sự đa dạng về chất lƣợng và chủng loại, tạo cho ngƣời tiêu dùng có nhiều cơ hội đƣợc lựa chọn. Bên cạnh đó họ cũng tiến vào nhiều thị trƣờng nhỏ mà các công ty lớn bỏ qua vì doanh thu từ đó quá nhỏ. - Hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động Sự xuất hiện và khả năng phát triển của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào những nhà sàng lập ra chúng.