Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục,…Luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công việc theo phƣơng pháp Thẻ điểm cân bằng trong tổ chức. Chƣơng 2: Thực trạng đánh giá hiệu quả công việc của Chi cục thuế huyện Hòn Đất hiện nay. Chƣơng 3: Thiết lập và áp dụng Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công việc theo phƣơng pháp Thẻ điểm cân bằng tại Chi cục thuế huyện Hòn Đất. 11 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG VIỆC THEO PHƢƠNG PHÁP BSC TRONG TỔ CHỨC THU THUẾ NHÀ NƢỚC 1.
Tổng quan Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công việc theo phƣơng pháp BSC 1.Khái niệm hiệu quả công việc Hiệu quả công việc đƣợc xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt đƣợc và chi phí bỏ ra để có đƣợc kết quả đó. Hiệu quả công việc có thể đƣợc tính bằng đơn vị hiện vật, đó chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tƣ, cũng có thể đƣợc tính bằng giá trị, đó là hiệu quả hoạt động quản lý chi phí. Hiệu quả công việc đạt đƣợc khi thu đƣợc nhiều lợi ích nhất, mà ít tốn chi phí nhất [1, tr. Nhƣ vậy, chúng ta có thể hiểu hiệu quả công việc là đạt đƣợc một kết quả giống nhau nhƣng sử dụng ít thời gian, công sức và nguồn lực vật chất.
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công việc Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công việc (KPIs) là chỉ số để đo lƣờng kết quả hoàn thành của một công việc, chỉ số này chính là công cụ quản lý, giúp ngƣời dùng khảo sát, phân tích, đo lƣờng khả năng hoàn thành mục tiêu đã đề ra. Đây là phƣơng pháp đo lƣờng kết quả thực hiện công việc bằng cách thiết lập một Hệ thống chỉ số hiệu suất là một tập hợp có tính hệ thống của các chỉ số đo lƣờng hƣớng vào các phƣơng diện hoạt động của tổ chức. Theo David Parmenter, có 3 loại chỉ số đo lƣờng hiệu suất là: - Chỉ số kết quả cốt yếu - KRI: cho biết tổ chức đã làm đƣợc gì với các viễn cảnh (Tài chính, Khách hàng, Quy trình nội bộ, Học hỏi&Phát triển, Môi trƣờng & Cộng đồng, Sự hài lòng của nhân viên.) trong Chiến lƣợc của tổ chức. 12 - Chỉ số hiệu suất - PI: cho biết tổ chức cần phải làm những công việc gì.
- Chỉ số hiệu suất cốt yếu - KPI: cho biết tổ chức cần phải làm gì để làm tăng hiệu suất lên một cách đáng kể. Để đo lƣờng hiệu suất cần phải thiết lập hệ thống chỉ số đo lƣờng hiệu suất. Trọng tâm của các chỉ số hiệu suất này là đo lƣờng các quá trình và các kết quả cốt yếu nhất quyết định đến thành công của tổ chức. Hƣớng theo Sứ mệnh, Tầm nhìn, Chiến lƣợc của tổ chức, hệ thống chỉ số này đƣợc thiết kế phân tầng từ cấp tổ chức đến cấp tổ/nhóm/cá nhân, thể hiện đƣợc kết quả hoạt động của tất cả các cấp độ trong tổ chức.
Xuất phát từ yêu cầu của việc đo lƣờng các kết quả thực hiện trong doanh nghiệp, phƣơng pháp KPIs đã đƣợc giới thiệu tại Mỹ từ những năm 80 của Thế kỉ 20, sau đó cùng với sự ra đời của Thẻ điểm cân bằng (BSC) của 2 tác giả Robert S.Kaplan và David Norton, KPIs đƣợc sử dụng rất rộng rãi trên thế giới nhƣ là một phƣơng thức hữu hiệu để đo lƣờng hiệu quả công việc thông qua việc thiết lập đƣợc một hệ thống các thƣớc đo hiệu suất. Phƣơng pháp KPIs cũng đã đƣợc áp dụng ở các tổ chức công nhƣ ở các cơ quan chính phủ, phi chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận khác. Hiện nay, phƣơng pháp KPIs đang đƣợc triển khai khá mạnh tại Việt Nam, đặc biệt là tại các doanh nghiệp đã áp dụng thành công ISO 9001.Thẻ điểm cân bằng 1. Nguồn gốc của Thẻ điểm cân bằng Phƣơng pháp Thẻ điểm cân bằng (BSC) đƣợc phát triển bởi các giáo sƣ Trƣờng Đại học Harvard là David Norton và Robert Kaplan, sáng lập viên của công ty tƣ vấn công nghệ thông tin Boston đã tiến hành một công trình nghiên cứu 12 công ty nhằm khảo sát các phƣơng pháp mới trong lĩnh vực đo lƣờng hiệu suất, các công ty này có tài sản vô hình đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị.
Xuất phát từ vấn đề thực tế đã đƣợc phát hiện là phần lớn các doanh nghiệp thất bại trong việc thực thi và quản lý chiến lƣợc của mình, Thẻ điểm cân bằng – The Balance Scorecard (BSC) của hai tác giả Robert Kaplan và David Norton đã đƣợc ra đời vào những năm đầu của thập niên 1990, khi Viện Norlan Norton bắt đầu khám phá hiệu 13 quả quản lý, cũng nhƣ tìm kiếm những khả năng và công cụ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý. Nghiên cứu “Đo lƣờng hiệu quả các tổ chức của tƣơng lai” đã diễn ra trong một năm với mục tiêu tìm kiếm phƣơng pháp mới để đo lƣờng hiệu quả hoạt động dựa trên các chỉ tiêu phi tài chính. Phƣơng pháp BSC ra đời đánh dấu bƣớc phát triển tiếp theo trong tiến trình phát triển chỉ số hiệu quả công việc của doanh nghiệp, bắt đầu từ những năm 20 của thế kỷ trƣớc. Khái niệm Thẻ điểm cân bằng Thẻ điểm cân bằng (BSC) là một hệ thống nhằm chuyển tầm nhìn và chiến lƣợc của tổ chức thành những mục tiêu và thƣớc đo cụ thể thông qua việc thiết lập một hệ thống để đo lƣờng kết quả hoạt động trong một tổ chức trên bốn phƣơng diện: tài chính, khách hàng, qui trình hoạt động nội bộ và học hỏi và phát triển.
Mô hình Thẻ điểm cân bằng của Robert Kaplan và David Norton (Nguồn: Robert S. Norton, 1996) BSC là một hệ thống các thƣớc đo định lƣợng đƣợc lựa chọn cẩn thận bắt nguồn từ chiến lƣợc của một tổ chức. Các thƣớc đo đƣợc lựa chọn cho BSC đại diện cho công cụ mà các nhà lãnh đạo dùng trong việc truyền đạt tới nhân viên và cổ 14 đông bên ngoài về kết quả và những yếu tố dẫn dắt hiệu suất mà thông qua đó, tổ chức sẽ đạt đƣợc sứ mệnh cùng các mục tiêu chiến lƣợc của mình. Phƣơng pháp này cho phép tạo ra sự cân bằng giữa mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn; giữa đánh giá bên ngoài (cổ đông, khách hàng) với đánh giá nội bộ (qui trình xử lý, đổi mới, học hỏi/phát triển); giữa kết quả mong muốn với kết quả thực tế đạt đƣợc; giữa đánh giá khách quan và đánh giá chủ quan.
BSC đƣợc xem là công cụ giao tiếp, hệ thống đo lƣờng và hệ thống quản lý chiến lƣợc. Bƣớc nhảy lớn nhất trong quá trình phát triển của BSC chính là chuyển từ hệ thống đo lƣờng sang công cụ giao tiếp chiến lƣợc thông qua Bản đồ chiến lƣợc. Thông qua bản đồ chiến lƣợc này, tất cả các thành viên trong tổ chức hình dung đƣợc toàn bộ chiến lƣợc của tổ chức và nhiệm vụ của tổ chức. BSC là hệ thống đo lƣờng thể hiện mối quan hệ tƣơng quan giữa các khía cạnh tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và đào tạo & phát triển.
BSC là hệ thống quản lý chiến lƣợc vì nó hạn chế đƣợc nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi chiến lƣợc nhƣ: Vƣợt qua rào cản tầm nhìn thông qua diễn giải chiến lƣợc; vƣợt qua rào cản con ngƣời nhờ kỹ thuật phân tầng trong Thẻ điểm; vƣợt qua rào cản nguồn lực nhờ việc phân bổ nguồn lực chiến lƣợc; vƣợt qua rào cản quản lý thông qua việc đào tạo chiến lƣợc. BSC giữ lại các chỉ tiêu tài chính truyền thống. Những chỉ tiêu này phản ánh tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, vốn chỉ phù hợp với những doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế công nghiệp, trong đó, đầu tƣ vào năng lực dài hạn và mối quan hệ khách hàng không phải là nhân tố mang lại thành công. Bốn phƣơng diện này cho phép tạo ra sự cân bằng đó là: - Cân bằng giữa mục tiêu ngắn hạn – mục tiêu dài hạn.
- Cân bằng giữa những đánh giá bên ngoài liên quan đến các cổ đông, khách hàng - những đánh giá nội bộ liên quan đến qui trình xử lý, đổi mới, học hỏi và phát triển. 15 - Cân bằng giữa kết quả mong muốn đạt đƣợc (tƣơng lai) – những kết quả trong thực tế (quá khứ). - Cân bằng giữa những đánh giá khách quan – đánh giá chủ quan. Cấu trúc của hệ thống Thẻ điểm cân bằng Cấu trúc của BSC bao gồm tầm nhìn và chiến lƣợc quản lý tổ chức đảm bảo lợi thế cạnh tranh.
- Tầm nhìn Tầm nhìn nhƣ là một bản đồ chỉ ra lộ trình một tổ chức dự định để phát triển và tăng cƣờng các hoạt động tác nghiệp của nó. Nó vẽ ra một bức tranh về nơi mà tổ chức muốn đến và cung cấp một sự chỉ dẫn hợp lý cho việc đi đến đâu. Mục đích của tầm nhìn để tập trung làm sáng tỏ: Phƣơng hƣớng tƣơng lai của tổ chức. Những thay đổi về sản phẩm, khách hàng, thị trƣờng và công nghệ của tổ chức để hoàn thiện: vị thế thị trƣờng hiện tại, triển vọng tƣơng lai.
Yêu cầu của tầm nhìn phải: • Ngắn gọn, xúc tích. • Hấp dẫn, lôi cuốn. • Nhất quán với sứ mạng (mission) và giá trị (value). • Truyền cảm hứng.
Phát triển tầm nhìn: Có 2 phƣơng pháp để phát triển tầm nhìn là: Phƣơng pháp phỏng vấn: Phỏng vấn nhà quản lý là thành phần then chốt của phƣơng pháp phỏng vấn để phát triển tầm nhìn. Mỗi nhà quản lý cấp cao đƣợc phỏng vấn riêng để thu thập phản hồi về định hƣớng tƣơng lai của tổ chức. Nên nhờ các chuyên gia tƣ vấn bên ngoài tiến hành phỏng vấn vì họ có kinh nghiệm và khả năng để đặt ra những câu hỏi sao cho thu thập đầy đủ thông tin cho việc phát triển tầm nhìn. Phƣơng pháp hƣớng về tƣơng lai: Phƣơng pháp này có thể thực hiện theo nhóm hoặc cá nhân riêng lẻ.
Phƣơng pháp đƣợc tiến hành bằng cách giành cho các cá nhân hoặc nhóm 16 khoảng 15 phút để tƣởng tƣợng về tƣơng lai và hỏi họ các câu hỏi về hiện tại, đại loại: Cái gì đã xảy ra với tổ chức của bạn? Bạn đang phục vụ thị trƣờng cái gì? Bạn có khả năng nào nổi trội so với đối thủ cạnh tranh? Mục tiêu nào bạn đã đạt đƣợc? Những ý tƣởng và câu trả lời đƣợc ghi nhận lại sẽ là vật liệu để phác hoạ tầm nhìn. - Chiến lược Theo Giáo sƣ Michael E.