Chương 1 trình bày về cơ sở lý thuyết bao gồm khái niệm đào tạo, khái niệm phản hồi, khái niệm kết quả làm việc và đề nghị mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết nghiên cứu. Khái niệm về đào tạo: Đào tạo đề cập đến việc lấp khoảng trống giữa hiệu suất hiện tại và hiệu suất mong muốn tiêu chuẩn. Việc đào tạo có thể được cung cấp thông qua nhiều phương pháp khác nhau như về huấn luyện và cố vấn, hợp tác với đồng nghiệp và sự tham gia của cấp dưới. Làm việc nhóm cho phép nhân viên tích cực tham gia vào công việc và tạo ra hiệu quả tốt hơn, từ đó cải thiện hiệu suất của tổ chức.
Các chương trình đào tạo và phát triển đều nhắm tới mục đích nâng cao hiệu quả công việc của nhân viên (Amir Elnaga và Amen Imran, 2013) Đào tạo được định nghĩa là “nỗ lực có hoạch định của một tổ chức nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động học hỏi hành vi liên quan đến công việc” (Wexley & Latham, 1991, trang 3). Đào tạo đề cập đến sự can thiệp có kế hoạch nhằm tăng cường các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của cá nhân (Chiaburu và Tekleab, 2005). Đó chính là sự cải thiện các kỹ năng cần thiết để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Các chương trình đào tạo và phát triển tìm cách thay đổi kỹ năng, tri thức hay hành vi của người lao động.
Các chương trình có thể tập trung vào việc cải thiện mức độ ý thức cá nhân, tăng năng lực cá nhân trong một hay nhiều lĩnh vực chuyên môn, hay tăng động lực làm việc của cá nhân để thực hiện tốt công việc. Đôi khi việc đào tạo nhắm vào những vấn đề đặc biệt như quản lý căng thẳng, quản lý thời gian, quản lý rủi ro, sức khỏe và an toàn, hay phục vụ khách hàng. Cũng có lúc, có thể có nhu cầu về các phương pháp cải thiện hiệu quả nhóm, như giúp nhóm tăng kỹ năng làm việc nhóm hiệu quả hay giúp họ tìm hiểu về động lực các mối quan hệ giữa cá nhân với nhau và hành vi nhóm (Pynes, 2009) Các chương trình đào tạo cũng giúp lực lượng lao động bớt đi sự lo lắng hoặc thất vọng của họ, bắt nguồn từ công việc (Chen và các cộng sự, 2004). Những người lao động cảm thấy bản thân không thể hoàn thành được một công việc ở mức độ như mong muốn thường quyết định rời khỏi công ty (Chen và các cộng sự, 123doc 6 2004), ngược lại dù có ở lại họ cũng sẽ không đóng góp được gì thêm vào năng suất của công ty (Kanelopoulos và Akrivos, 2006).
Khoảng cách giữa những kỹ năng cần thiết và những kỹ năng đã có càng lớn thì nhân viên lại càng dễ cảm thấy bất mãn hơn. Rowden (2002), gợi ý rằng việc đào tạo cũng có thể là một công cụ vô cùng hiệu quả để cải thiện sự hài lòng của nhân viên trong công việc khi họ làm việc tốt hơn dẫn đến những đánh giá cao hơn từ ban lãnh đạo, do đó nhân viên sẽ cảm thấy phù hợp với công việc của mình nhiều hơn nữa. Theo Rowden và Conine (2005), nhân viên được đào tạo có thể thỏa mãn được khách hàng nhiều hơn. Theo Tsai và cộng sự (2007), nhân viên học hỏi từ các chương trình đào tạo cũng cho thấy mức độ hài lòng trong công việc cao hơn cùng với hiệu quả công việc cũng tốt hơn.
Đào tạo rất quan trọng và là một công cụ cần thiết để tổ chức cải tiến hiệu suất công việc của tất cả nhân viên cho sự tăng trưởng và thành công chung của tổ chức. Điều này có lợi cho cả nhà tuyển dụng và nhân viên của một tổ chức. Người nhân viên sẽ trở nên hữu ích hơn và có năng suất làm việc tốt hơn nếu được đào tạo tốt. Các công ty có thể phát triển và nâng cao chất lượng của nhân viên hiện tại bằng cách cung cấp các chương trình đào tạo và phát triển toàn diện.
Đào tạo là điều cần thiết không chỉ để tăng năng suất mà còn thúc đẩy và truyền cảm hứng cho người lao động bằng cách cho họ biết tầm quan trọng trong công việc của họ và cung cấp cho họ tất cả các thông tin cần thiết để thực hiện những công việc đó (Anonymous, 1998). Các lợi ích chung nhận được từ việc đào tạo nhân viên là: sự hài lòng trong công việc và tinh thần làm việc tăng lên, động lực tăng lên, tăng hiệu quả trong các quy trình, từ đó mang đến lợi ích về tài chính, tăng khả năng áp dụng các công nghệ và phương pháp mới, tăng sự đổi mới trong thực hiện chiến lược, sản phẩm cũng như giảm số lượng nghỉ việc trong nhân viên (Anonymous, 1998) Việc đào tạo không chỉ phát triển năng lực của nhân viên mà còn tăng cường khả năng tư duy và sáng tạo để có thể kịp thời đưa ra quyết định tốt hơn và có hiệu quả hơn (David, 2006). Hơn nữa, nó cũng cho phép nhân viên ứng xử với khách hàng một cách có hiệu quả và đáp ứng các khiếu nại của họ một cách kịp thời (Hollenbeck, Derue và Guzzo, 2004). 123doc 7 Các chương trình đào tạo giúp phát triển nhân viên và giúp tổ chức tận dụng tối đa các nguồn lực con người để tạo lợi thế cạnh tranh.
Do đó, các tổ chức luôn cần phải lập kế hoạch cho các chương trình đào tạo cho nhân viên nhằm nâng cao năng lực cần thiết tại nơi làm việc (Jie và Roger, 2005). Nhận thức được vai trò của đào tạo, cho phép các nhà quản trị hàng đầu tạo ra môi trường làm việc tốt hơn mà cuối cùng giúp nâng cao động lực cũng như hiệu suất của lực lượng lao động. Theo Leonard-Barton (1992), một tổ chức có giá trị và lợi thế cạnh tranh nên xây dựng hệ thống đảm bảo học tập liên tục, và cách hiệu quả để làm việc đó là đào tạo. Pfeffer (1994) nhấn mạnh rằng lực lượng lao động được đào tạo tốt có nhiều khả năng đạt được các mục tiêu về hiệu suất và đạt được lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Đào tạo được xác định là quá trình cho phép nhân viên hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả cao hơn, do đó được coi là yếu tố quan trọng trong chiến lược quản lý hiệu quả nguồn nhân lực (Lawler, 1993; Delaney và Huselid, 1996). Theo Nguyễn Văn Trung (2009), hiện nay các quốc gia đều chú trọng phát triển nguồn nhân lực và đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, xem đó là yếu tố then chốt trong chiến lược quản lý nền công vụ không chỉ nhằm đạt hiệu quả cao cho việc thực hiện các nhiệm vụ hiện tại, mà còn chuẩn bị nguồn nhân lực cho nhu cầu phát triển nền hành chính trong tương lai. Các quốc gia hết sức coi trọng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trước hết là đội ngũ cán bộ, công chức của nền công vụ, coi đây là một yêu cầu tất yếu khách quan, nhân tố quyết định thúc đẩy quá trình đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Việc đào tạo đội ngũ công chức là yêu cầu và nhiệm vụ thường xuyên để kiện toàn tổ chức bộ máy và thể chế nhà nước, thúc đẩy thực hiện cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính hiện đại, sự phát triển của mỗi quốc gia trong tiến trình hội nhập.
Sự khác biệt giữa đào tạo và phát triển được thể hiện qua bảng dưới đây: 123doc 8 Bảng 1.1 Sự khác biệt giữa đào tạo và phát triển Đào tạo Phát triển Trọng tâm Đáp ứng nhu cầu công việc hiện Đáp ứng nhu cầu công việc trong tại tương lai Phạm vi Áp dụng cho cá nhân Áp dụng cho cá nhân, nhóm và tổ chức Mục tiêu Khắc phục các vấn đề hiện tại. Chuẩn bị cho sự thay đổi trong tương lai Thời gian Ngắn hạn Dài hạn Sự tham gia Bắt buộc Tự nguyện Theo Pynes (2009, chương 11), quy trình đào tạo gồm 4 bước được thể hiện theo sơ đồ dưới đây. Xác định nhu cầu đào tạo Đánh giá hoạt động đào tạo Lập kế hoạch đào tạo Thực hiện việc đào tạo Hình 1.1 Quy trình đào tạo Bước 1: Xác định nhu cầu đào tạo: Thông qua việc đánh giá nhu cầu về kỹ năng và tri thức mà vị trí công việc hiện tại đòi hỏi, và các kỹ năng, tri thức dự đoán sẽ cần thiết trong tương lai. Việc đánh giá có nhu cầu quan trọng nhằm tìm hiểu xem liệu có thể xóa bỏ những khiếm khuyết, thiếu sót trong hiệu quả công việc thông qua đào tạo hay không.
Bởi vì nếu không đánh giá nhu cầu, ta có thể thiết kế và thực hiện một chương trình đào tạo như một giải pháp cho một vấn đề mà chẳng liên quan gì đến khiếm khuyết cần được đào tạo. Bước 2: Lập kế hoạch đào tạo, gồm 2 bước: Xây dựng các mục tiêu đào tạo: Các mục tiêu đào tạo nêu rõ các tri thức, 123doc 9 năng lực và các đặc điểm khác mà người lao động phải có ở cuối khóa đào tạo. Để hữu ích, mục tiêu đào tạo phải được trình bày càng cụ thể cảng tốt Xây dựng chương trình giảng dạy: chương trình giảng dạy phải cung cấp những thông tin cần thiết và được xây dựng nhằm tối đa hóa việc truyền đạt các kỹ năng, kiến thức, năng lực và các đặc điểm khác. Bước 3: Thực hiện hoạt động đào tạo: Là giai đoạn mà nhà đào tạo và học viên hội tụ với nhau.
Thực hiện hoạt động đào tạo cần phải tìm ra các hình thức và các phương pháp thích hợp nhằm tối ưu hóa quá trình đào tạo. Bước 4: Đánh giá đào tạo: Đây là bước cần thiết để xác định xem liệu việc đào tạo có đạt được các mục tiêu hay không. Đây thường là khía cạnh hay bị bỏ quên nhất trong hoạt động đào tạo, nhất là trong khu vực công. Việc đánh giá gúp cải thiện chương trình đào tạo thông qua cung cấp những thông tin phản hồi cho nhà đào tạo, học viên, nhà quản lý, và giúp tăng trình độ, kỹ năng của người lao động.
Gồm có 4 mức độ đánh giá sau: - Đo lường phản ứng của học viên với chương trình đào tạo. - Đo lường xem việc học tập có phải đã đạt được như một kết quả của việc tham gia đào tạo hay không - Đo lường mức độ thay đổi hành vi trong công việc xảy ra nhờ tham gia chương trình đào tạo. - Đo lường các kết quả sau cùng xảy ra nhờ người lao động đã tham gia đào tạo. Các hình thức đào tạo được liệt kê thông qua bảng dưới đây.