Chương 1, quy định: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Như vậy, thuế GTGT được hiểu là thuế chỉ áp dụng dựa trên phần giá trị tăng thêm mà không phải dựa trên toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng - Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác giá cả hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng mua có bao gồm cả thuế GTGT. Như vậy người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hóa và dịch vụ cho người bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT mà người mua trả.
Người bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp “đã được người mua trả” vào NSNN. - Thuế GTGT đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng.
Tuy nhiên, trên thực tế rất khó xác định được đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng trung gian. Do vậy, cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế; số thuế GTGT ở khâu trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và người tiêu dùng cuối cùng là người sẽ phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hóa đó. Tổng số thuế người tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. - Về phạm vi đánh thuế: thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ.
Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu. Vai trò và các phương pháp tính thuế gía trị gia tăng 1. Vai trò của thuế giá trị gia tăng - Vai trò của thuế GTGT trong lưu thông hàng hóa + Việc áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu không ảnh hưởng đến giá sản phẩm tiêu dùng. Mà trái lại, giá cả hàng hóa ngày càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh được tình trạng thuế chồng thuế.
+ Thuế GTGT không phải là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát, 8 gây khó khăn trở ngại cho việc phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa. + Việc áp dụng thuế GTGT góp phần ổn định giá cả, mở rộng lưu thông hàng hóa, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu. - Vai trò của thuế GTGT trong quản lý kinh tế nhà nước + Thuế GTGT tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN. + Thuế GTGT tính trên giá bán hàng hóa hoặc giá dịch vụ nên không phải đi sâu vào việc xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ của các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản lý thu đối với khoản thuế này tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu.
+ Thuế GTGT góp phần làm tăng giá vốn đối với hàng hóa nhập khẩu nên có tác dụng tích cực trong bảo hộ sản xuất, kinh doanh hàng nội địa. + Thuế GTGT tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao, đồng thời nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của NNT. +Thuế GTGT giúp tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hóa có hóa đơn chứng từ; việc tính thuế đầu ra được khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán cùng thực hiện tốt hơn chế độ hóa đơn, chứng từ. + Thuế GTGT góp phần khuyến khích hiện đại hóa, chuyên môn hóa sản xuất, tăng cường việc đầu tư mua sắm trang thiết bị mới nhằm hạ giá thành sản phẩm.
+ Thuế GTGT góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế của chúng ta hiện nay ngày càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Các phương pháp tính thuế giá trị gia tăng * Phương pháp khấu trừ - Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. 9 -“Xác định thuế GTGT phải nộp: Số thuế GTGT phải nộp = Số thuế GTGT đầu ra - Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Trong đó: + Số thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn GTGT.
+ Thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó. * Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng - Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT áp dụng đối với các đối tượng sau đây: + Cá nhân, hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. + Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật Đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. + Hoạt động kinh doanh mua bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ.
Xác định thuế GTGT phải nộp: Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT = GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ đó. Quản lý thuế giá trị gia tăng trên địa bàn cấp huyện 1. Khái niệm, nguyên tắc quản lý thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm quản lý thuế giá trị gia tăng “Quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách và theo nhiều góc độ khác nhau.
Theo các nhà kinh tế học hiện đại “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát để đạt được mục tiêu đã đặt ra”. Theo Wikipedia: “Quản lý là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ. Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực có sẵn như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực”. (Nguyễn Trung Phán, 2020) 10 Từ khái niệm về quản lý nêu trên, ta có thể thấy quản lý thuế là một hệ thống những quá trình có quan hệ với nhau nhằm đảm bảo các mục tiêu đó là thu đúng, thu đủ, thu kịp thời và đảm bảo công bằng trên cơ sở những quy định của pháp luật thuế bao gồm các hoạt động như thực hiện công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT; quản lý đối tượng nộp thuế thông qua việc đăng ký, kê khai thuế, xác định số thuế phải nộp; đôn đốc thu nộp thuế vào NSNN và thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra.
Quản lý thuế có thể hiểu là các hoạt động của nhà nước trong việc thực hiện các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thực hiện các biện pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt hệ thống chính sách thuế. Theo phạm vi rộng, chủ thể quản lý thu thuế ở đây có thể được hiểu là tất cả các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong xã hội có tham gia vào hoạt động quản lý thuế hoặc được hiểu theo nghĩa hẹp là các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế (cơ quan thuế). Do đó: “Quản lý thuế GTGT là hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan thuế tác động đến các đối tượng nộp thuế GTGT để đảm bảo thực thi pháp luật về thuế GTGT với mục đích thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế GTGT vào NSNN”. Nguyên tắc quản lý thuế giá trị gia tăng Nguyên tắc quản lý thuế giá trị gia tăng (GTGT) bao gồm một loạt các nguyên tắc cơ bản mà các doanh nghiệp và cơ quan thuế cần tuân thủ để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của hệ thống thuế GTGT.
Dưới đây là một số nguyên tắc quan trọng: Nguyên tắc tuân thủ pháp luật: Tất cả các cá nhân và tổ chức đều phải tuân thủ các quy định về thuế giá trị gia tăng mà không phân biệt đối xử. Tất cả các bên liên quan phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn của pháp luật về GTGT một cách nghiêm ngặt. Nguyên tắc tính hiệu quả: Các biện pháp quản lý thuế phải được thiết kế và thực hiện một cách hiệu quả, tránh lãng phí và không hiệu quả. Nguyên tắc thúc đẩy ý thức tuân thủ của người nộp thuế: Mọi cá nhân và tổ chức phải chịu trách nhiệm về việc kê khai thuế của mình theo quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai đó.
Nguyên tắc về tính minh bạch: Các doanh nghiệp phải cung cấp thông tin và báo cáo thuế GTGT một cách minh bạch và chính xác, giúp cơ quan thuế kiểm tra và giám sát hiệu quả. 11 Nguyên tắc phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế: Các quy định và nguyên tắc về thuế cần phải tuân thủ các hiệp định quốc tế mà quốc gia đã ký kết và cam kết thực hiện, như Công ước Liên Hợp Quốc về Biểu thuế và Thuế giá trị gia tăng. Hệ thống thuế cần phải thúc đẩy hợp tác quốc tế và trao đổi thông tin với các quốc gia khác để ngăn chặn việc trốn thuế và tránh thuế.