Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế thành phố Việt Trì. Chương 3: Mục tiêu, phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp tại Chi cục Thuế thành phố Việt Trì đến năm 2030. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm Trên thế giới, thuế GTGT lần đầu được nhắc đến vào năm 1954 bởi một nhà kinh tế học người Pháp Maurice Lauré “ Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu dựa trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Theo Maurice Lauré , thuế GTGT được nghiên cứu và áp dụng giúp khắc phục những hạn chế của thuế doanh thu như: tránh tình trạng tính thuế trùng lắp, việc thực hiện tổ chức quản lý dễ dàng và đơn giản hơn, mang tính trung lập và dân chủ cao. Đây là một loại thuế được thu vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hóa, đi từ khâu nguyên liệu cho đến sản phẩm hoàn thành và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng.
Do đó, thuế GTGT còn được xem là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước đó. Theo Luật số 13/2008/QH12 của Quốc Hội quy định về Luật Thuế giá trị gia tăng có khái niệm về thuế giá trị gia tăng như sau:“ Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” 1. Đặc điểm thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT là một sắc thuế tiêu dùng nên nó mang toàn bộ những đặc điểm của sắc thuế tiêu dùng và các đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất, thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hoạt động chi tiêu của người mua hàng, với đối tượng chịu thuế cuối cùng là người tiêu dùng. Đối tượng nộp thuế vào nguồn thu ngân sách là cá nhân, tổ chức bán hàng, đã cộng thêm phần thuế GTGT vào hàng hóa dịch vụ họ bán, và thực hiện nộp lại số thuế này vào ngân sách nhà nước bằng cách kê khai và nộp thuế GTGT đầu ra tương ứng với doanh thu.
Đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng, họ không trực tiếp đem tiền thuế nộp cho nhà nước, mà đã thực hiện nộp thuế ngay khi trả tiền cho hàng hóa và dịch vụ cho người bán. Tóm lại, nhà nước thu thuế GTGT về từ đơn vị tổ chức cung cấp hàng hóa dịch vụ nhưng thực chất thuế là do người tiêu dùng chi. Thứ hai, thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn. Thuế GTGT xuất hiện trong hầu hết hàng hóa và dịch vụ, từ khâu sản xuất, kinh doanh cho tới tiêu dùng, nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm ở mỗi giai đoạn.
6 Thứ ba, thuế GTGT không tính trùng thuế trên thuế giữa các khâu từ nhập khẩu sản xuất lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT phải nộp không bao gồm số thuế phải trả ở các khâu trước thông qua cơ chế khấu trừ toàn bộ. Cơ chế này giúp tăng cường hiệu quả quản lý các loại thuế liên quan đến hoạt động SXKD qua các khâu. Thứ tư, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao, thể hiện ở 2 khía cạnh: (1) Thuế GTGT sẽ không bị ảnh hưởng bởi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người thay mặt người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN.
Vì vậy, thuế GTGT chỉ đơn thuần là một khoản thu được tính thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa dịch vụ. (2) Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình hoạt động tổ chức và phân chia sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. Thứ năm, thuế GTGT có tính lãnh thổ rõ rệt. Điều này thể hiện rõ khi đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Thuế GTGT không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này đã tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc đánh thuế suất 0% đối với hầu hết hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế 5%, 10% đối với hầu hết hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu. Thứ sáu, thuế GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập. Thuế GTGT phụ thuộc vào khả năng tiêu dùng trong xã hội.
Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng, trao đổi mua bán càng tăng lên thì càng làm tăng nguồn thu từ thuế GTGT. Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý thu thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm quản lý về thu thuế giá trị gia tăng Quản lý thu thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo nhà kinh tế học như Adam Smith không chỉ là việc quản lý nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là đảm bảo hiệu quả kinh tế, công bằng và dễ tuân thủ, đồng thời tạo điều kiện phát triển bền vững cho nền kinh tế. Khái niệm quản lý thu thuế GTGT được tạp chí điện tử thuế nhà nước viết như sau: “Quản lý thu thuế GTGT là một quá trình toàn diện, không chỉ dừng lại ở việc thu ngân sách mà còn bao gồm việc xây dựng chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp, giám sát và cải tiến quy trình, nhằm tạo ra một môi trường thuế công bằng, minh bạch và hiệu quả cho tất cả các bên liên quan.” 7 Như vậy, xét về bản chất, quản lý thu thuế GTGT là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế GTGT vào NSNN một cách công bằng, minh bạch và hiệu quả.
Mục tiêu quản lý thu thuế GTGT Thuế là công cụ quan trọng hàng đầu của Nhà nước để thực hiện yêu cầu quản lý và điều tiết vĩ mô mọi hoạt động SXKD thuộc mọi thành phần kinh tế. Mục tiêu quản lý thu thuế GTGT bao gồm 3 mục tiêu chính: Thứ nhất, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào ngân sách nhà nước. Trong bối cảnh công nghệ số đang phát triển mạnh mẽ hiện nay, việc áp dụng cơ chế tự khai tự nộp thuế cũng đặt ra cho cơ quan thuế những thách thức trong việc xác định bản chất của giao dịch điện tử; kiểm soát đối tượng, doanh thu; các phương thức giao dịch… để sử dụng biện pháp thu thuế chính xác, tránh các rủi ro gian lận, trốn lậu thuế. Thứ hai, đảm bảo tính bền vững trong việc tạo lập nguồn thu.
Như vậy, thu thuế GTGT cần thực hiện xây dựng quy trình có tính linh hoạt, các công cụ, chính sách đưa ra phải phù hợp với từng giai đoạn của xã hội, giúp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển bền vững. Từ đó tạo nguồn thu ổn định và lâu dài cho ngân sách nhà nước. Thứ ba, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho các doanh nghiệp trong chấp hành thuế. Thu thuế GTGT phải thông qua công cụ luật pháp, chính sách để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, các tổ chức kinh tế.
Trong bối cảnh công nghệ số đang phát triển mạnh mẽ sẽ tạo điều kiện và cơ hội cho việc trốn thuế và gian lận thuế của doanh nghiệp khá dễ dàng. Do vậy, cần có các biện pháp tuyên truyền nâng cao hiểu biết, ý thức cho doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế. Trên cơ sở đó cũng cần quy định các chế tài xử lý nghiêm minh các hành vi cố tình gian lận, trốn thuế. Nguyên tắc quản lý về thu thuế GTGT Thứ nhất, công tác quản lý thu thuế GTGT cần giữ được nguyên tắc công bằng, đối tượng có năng lực chịu thuế thì phải nộp thuế, không có ngoại trừ.
Thứ hai, công tác quản lý thu thuế GTGT cần đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch. Nguyên tắc công khai quy định hệ thống chính sách thuế và các qui trình, thủ tục thu nộp thuế phải công bố rộng rãi, công khai cho NNT và tất cả các tổ chức, cá nhân có liên quan được biết qua đó giúp triển khai hoạt động thu thuế minh bạch, khách quan đồng thời tạo điều kiện khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 8 Thứ ba, thu thuế cần dựa trên nguyên tắc tuân thủ pháp luật. Nguyên tắc này chi phối hoạt động của các đối tượng trong quan hệ thu thuế bao gồm: các cơ quan nhà nước, NNT,….
Quy trình làm việc của cơ quan nhà nước luôn chấp hành theo quy định pháp luật. Hoạt động thu thuế của cơ quan thuế luôn tuân theo các văn bản pháp luật hiện hành, đảm bảo thu đúng và đủ số thuế GTGT. Đối với NNT, thông qua các quy định pháp luật buộc họ phải thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ thuế GTGT đối với Nhà nước. Thứ tư, tuân thủ và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế yêu cầu mỗi quốc gia cần có những thay đổi quy định về công tác và chuẩn mực quản lý thu thuế phù hợp với cam kết và thông lệ quốc tế. Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp có phạm vi cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Vì vậy, muốn khuyến khích xuất khẩu sản phẩm, mở rộng thị trường các doanh nghiệp ra nước ngoài đòi hỏi nhà nước cần điều chỉnh các chính sách, quy định về thu thuế phù hợp với thông lệ quốc tế. Điều này vừa đảm bảo nguồn thu từ thuế cho NSNN đồng thời tạo cơ sở cho các doanh nghiệp phát triển ra thị trường quốc tế.
Nội dung quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp 1. Tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp Chính sách thuế luôn được thay đổi linh hoạt theo từng giai đoạn của xã hội, vì vậy, một bộ phận doanh nghiệp rất khó để cập nhật tình hình văn bản thuế áp dụng. Hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp sẽ giúp giải đáp kịp thời các thắc mắc của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế, đảm bảo doanh nghiệp nộp đúng, nộp đủ tránh làm tăng khoản chậm nộp thuế do không cập nhật kịp thời quy định của nhà nước.