CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ KIỂM TRA THUẾ 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thuế 1.1 Những vấn đề chung về quản lý thuế Để duy trì sự tồn tại và phát triển của một xã hội theo định hướng phát triển của quốc gia, thì Nhà nước của quốc gia đó phải có nguồn tài chính để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. Như đã đề cập ở trên, nguồn ngân sách nhà nước được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó thuế là một nguồn quan trọng, chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách. Chính vì thế, Nhà nước cần tiến hành các hoạt động quản lý thuế sao cho vừa đảm bảo được nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước, vừa đảm bảo được tính công bằng về thuế trong xã hội.1 Khái niệm về quản lý thuế Theo Giáo trình Quản lý thuế (2016) của Học viện Tài chính thì Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra [6, tr86].2 Nguyên tắc quản lý thuế Điều 4, Luật quản lý thuế năm 2006 quy định: “1. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước.
Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế. Việc quản lý thuế thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế”.
Luan van 9 Nguyên tắc thứ nhất: Nộp thuế là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Điều này không chỉ thể hiện trong Luật thuế mà còn thể hiện trong Hiến pháp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt nam. Các cá nhân tổ chức được quyền tự do kinh doanh, tự do đi lại. các hoạt động hợp pháp của cá nhân, tổ chức được Nhà nước bảo vệ.
Vì vậy, để đảm bảo Nhà nước tồn tại và trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn lực để thực hiện nội dung trên, cá nhân, tổ chức phải có nghĩa vụ nộp thuế. Ngược lại, người dân được hưởng quyền lợi hợp pháp được Nhà nước bảo vệ được hưởng các phúc lợi xã hội do Nhà nước cung cấp … xét ở góc độ này thì nộp thuế chính là quyền lợi của người dân. Nguyên tắc thứ hai: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế. Hoạt động quản lý thuế không chỉ được thực hiện bởi Nhà nước, mà đại diện là các cơ quan thuế được Nhà nước trao quyền.
Hoạt động quản lý thuế cần có sự góp sức của tất cả các thành viên trong xã hội bao gồm cá nhân, tổ chức như Mặt trận tổ quốc, các cơ quan báo đài, các tổ chức khác… với vai trò giám sát, hỗ trợ cơ quan thuế thực thi nhiệm vụ quản lý thuế vì mục tiêu chung của toàn xã hội. Nguyên tắc thứ 3: Việc quản lý thuế phải đảm bảo tính công khai, minh bạch, bình đẳng, bảo đảm quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có nghĩa vụ về thuế. Việc quản lý thuế phải được thực hiện một cách công khai thì mới đảm bảo được tính bình đẳng và minh bạch. Các thông tin liên quan đến thực hiện nghĩa vụ thuế của chủ thể được công khai rộng rãi để mọi người dân đều biết và góp phần giám sát thông tin cũng như tình hình thực hiện.
Đồng thời, việc công khai minh bạch cũng là biện pháp làm trong sạch hệ thống thuế, tránh những hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, gây thiệt hại cho Ngân sách nhà nước cũng như ảnh hưởng đến đạo đức xã hội. Việc công khai minh bạch này cũng là cơ sở để Người nộp thuế tự bảo vệ mình. Các nguyên tắc này được thực hiện thống nhất và xuyên suốt trong các quy phạm pháp luật về quản lý thuế nhằm đảm bảo hoạt động quản lý thuế được thực hiện hiệu quả.3 Chủ thể, đối tượng, các bên liên quan đến quản lý thuế Chủ thể liên quan đến quản lý thuế gồm: Người nộp thuế, cơ quan thuế và các tổ chức khác. Chủ thể thứ nhất: Người nộp thuế có thể chia ra hai nhóm chủ thể chính: - Đối tượng nộp thuế: Là chủ thể có nghĩa vụ đăng ký, kê khai, nộp thuế được quy định trong từng sắc thuế cụ thể.
- Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, các nhân làm thủ tục về thuế thay cho người nộp thuế, bao gồm: Tổ chức cá nhân là bên Việt Nam ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo quy định của pháp luật về đầu tư và không thực hiện chế độ kế toán tại Việt Nam; Tổ chức cá nhân khấu trừ thuế khi chi trả thu nhập cho người có thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân; Tổ chức làm đại lý tàu biển, đại lý cho các hãng vận tải nước ngoài có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng tàu biển từ Việt Nam ra nước ngoài và giữa các cảng biển nội địa; Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục thuế. Đại lý làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; Tổ chức, các nhân cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trong trường hợp nộp thay thuế cho tổ chức, cá nhân Người nộp thuế; Tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng trong trường hợp bảo lãnh nộp thuế cho tổ chức, cá nhân nộp thuế. Đại diện người nộp thuế: Là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt Người nộp thuế thực hiện một số thủ tục về thuế. Người có quan hệ liên quan với người nộp thuế: Chủ thể này không trực tiếp tham gia vào quan hệ pháp luật thuế nhưng các chủ thể này có thể ảnh hưởng đến phạm vi, tính chất nghĩa vụ thuế của chủ thể khác.
Luan van 11 Chủ thể thứ hai: Cơ quan thu thuế, là các cơ quan được Nhà nước trao chức năng, quyền hạn trong việc thu thuế, quản lý thuế. Các cơ quan thu thuế gồm: Cơ quan thuế; Cơ quan hải quan; Các cơ quan tài chính và cơ quan, tổ chức khác được nhà nước phân công nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước. Trong đó, cơ quan thuế có thể ủy nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thu một số loại thuế theo quy định của Bộ Tài Chính.4 Phương thức quản lý thuế Chi cục Thuế huyện Cai Lậy-tỉnh Tiền Giang áp dụng phương thức quản lý thuế thống nhất theo cơ chế “tự khai tự nộp”, khuyến khích nâng cao tinh thần tự nguyện, tự giác của Người nộp thuế. Đồng thời, Chi cục Thuế huyện Cai Lậy áp dụng biện pháp kiểm tra thuế theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc kê khai và nộp thuế của Người nộp thuế được thực hiện đúng, đủ, kịp thời.2 Nội dung quản lý thuế Đăng ký thuế Nội dung quản lý thuế được quy định tại Điều 3 Luật Quản lý thuế 2006 (Sửa đổi bổ sung 2012), bao gồm: - Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế.
- Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế. - Xoá nợ tiền thuế, tiền nộp chậm, tiền phạt. - Quản lý thông tin về người nộp thuế. - Kiểm tra thuế, thanh tra thuế.
- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. - Xử lý vi phạm pháp luật về thuế. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.2 Cơ sở lý luận về kiểm tra thuế Với cơ chế “tự khai, tự nộp” hiện nay, Nhà nước đã đề cao tinh thần tự nguyện, tự giác cho Người nộp thuế thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với thuế. Tuy nhiên, nếu Nhà nước không đặt ra cơ chế kiểm tra, kiểm soát thì rất có thể sẽ dẫn đến sự mất công bằng trong thực hiện về thuế, dẫn đến các hành vi vi phạm về thuế và các vấn đề phát sinh không phù hợp với thực tiễn sẽ không được kịp thời điều chỉnh.
Do đó, bên cạnh việc khuyến khích tinh thần tự nguyện, tự giác với cơ chế “tự khai, tự nộp”, Nhà nước song song đó thực hiện công tác kiểm tra thuế như một công cụ hữu ích để đảm bảo hiệu quả của công tác thu thuế, quản lý thuế.1 Khái niệm kiểm tra thuế Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế, nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - xã hội (Nguồn tài liệu để nghiên cứu Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11). “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng được kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng được kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá” (Giáo trình quản lý thuế năm 2008; tr.411) Qua quan niệm nêu trên có thể hiểu: Kiểm tra thuế là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan thuế các cấp đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, phí và lệ phí (gọi chung là thuế). Về mục đích: Tại Điều 77, Luật quản lý thuế quy định Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế; Điều 78 quy định Kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế; Kiểm tra thuế là nội dung quan trọng của quản lý thuế. Mục đích phát hiện những ngui cơ rủi ro về thuế để ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, từ Luan van 13 đó góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân có ý thức trong việc chấp hành pháp luật thuế và hoàn thành tốt nghĩa vụ của người nộp thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.2 Mục tiêu và nguyên tắc kiểm tra 1.1 Mục tiêu của kiểm tra thuế Mục tiêu của kiểm tra thuế là nhăm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế đảm bảo công bằng xã hội và hiệu lực quản lý thuế.