Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý thuế tài nguyên đối với các doanh nghiệp tại Cục Thuế cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng quản lý thuế tài nguyên đối với các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Cao Bằng. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thuế tài nguyên đối với các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Cao Bằng. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CỤC THUẾ CẤP TỈNH 1.
Khái niệm, đặc điểm về quản lý thuế tài nguyên đối với các doanh nghiệp tại Cục Thuế cấp tỉnh 1. Khái niệm và phân loại về thuế tài nguyên * Khái niệm thuế tài nguyên Thuế tài nguyên là phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa ba chủ thể (Nhà nước – Doanh nghiệp và người sử dụng) đối với khai thác tài nguyên thiên nhiên, Nhà nước giao quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên cho doanh nghiệp khai thác thì doanh nghiệp có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo sự thỏa thuận quy định trong luật pháp. (Tom Tietenberg, 2006) * Đặc điểm cơ bản của thuế tài nguyên Thứ nhất, thuế tài nguyên là một khoản thu của NSNN đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý. Thứ hai, thuế tài nguyên đánh trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên.
Cho dù là khai thác tài nguyên với bất kỳ mục đích nào thì thuế tài nguyên phải nộp cũng căn cứ trên sản lượng khai thác và giá trị thương phẩm của nó. Thứ ba, thuế tài nguyên được cấu thành trong giá bán tài nguyên hoặc sản phẩm tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên. Thuế tài nguyên cũng giống như sắc thuế khác như GTGT hay TTĐB là loại thuế gián thu, thuế đánh trên người tiêu dùng, mặc dù người khai thác là người đứng ra nộp thuế tài nguyên nhưng người tiêu dùng mới là người phải chi trả. Thứ tư, thuế tài nguyên áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên thuộc đối tượng chịu thuế, không phụ thuộc vào mục đích sử dụng.
Cho dù là khai thác tài nguyên để phục vụ cho mục đích sử dụng nào đi chăng nữa thì cũng phải nộp thuế, không phân biệt cho mục đích này hay mục đích kia, đảm bảo sự công bằng và thống nhất đối với mọi tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác tài nguyên. * Đối tượng chịu thuế tài nguyên gồm: - Khoáng sản kim loại: Gồm khoáng sản kim loại và khoáng sản kim loại màu. - Khoáng sản không kim loại, kể cả khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông 3 thường và đất làm gạch, đất khai thác san lấp, xây dựng công trình, đất khai thác sử dụng cho các mục đích khác; đá, cát, sỏi, than, đá quý. nước khoáng, nước nóng thiên nhiên.
- KS năng lượng như: Dầu mỏ, khí đốt; than đá. - Sản phẩm của rừng tự nhiên, trừ động vật. - Hải sản tự nhiên, bao gồm động vật và thực hiện biển. - Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất.
- Yến sào thiên nhiên. - Các loại tài nguyên khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định. Doanh nghiệp và thuế tài nguyên đối với các doanh nghiệp Thuế tài nguyên là khoản thu của NSNN nhằm điều tiết một phần giá trị tài nguyên thiên nhiên khai thác đối với tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên hợp pháp trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia, tạo nguồn thu NSNN, đảm bảo quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên. Theo Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25/11/2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định đối tượng chịu thuế tài nguyên là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các loại tài nguyên nhân tạo không thuộc đối tượng chịu Thuế tài nguyên. Người nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên, không phân biệt ngành nghề, quy mô hình thức, mục đích khai thác tài nguyên. Đối với tài nguyên áp dụng mức thuế theo tỷ lệ phần trăm (%) thì căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế đơn vị tài nguyên và thuế suất thuế tàì nguyên Thuế tài nguyên Sản lượng tài Giá tính thuế đơn Thuế suất thuế = x x phải nộp trong kỳ nguyên tính thuế vị tài nguyên tài nguyên + Giá tính thuế tài nguyên thực hiện theo quy định tại Điều 6 Luật Thuế tài nguyên. Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng nhưng không được thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định.
4 Mức thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên thực hiện theo Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành, hiện nay thực hiện theo Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13 ngày 10/12/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tài nguyên được cơ quan nhà nước ấn định mức thuế tài nguyên trên đơn vị tài nguyên khai thác thì căn cứ vào số lượng tài nguyên thành phẩm khai thác và mức thuế tuyệt đối trên một đơn vị tài nguyên. Thuế tài nguyên phải nộp được tính theo công thức sau: Sản lượng Thuế tài nguyên Mức thuế tài nguyên ấn định trên = tài nguyên x phải nộp trong kỳ một đơn vị tài nguyên khai thác tính thuế + Sản lượng tài nguyên tính thuế thực hiện theo quy định tại Điều 5 Luật Thuế tài nguyên. Sản lượng tài nguyên làm căn cứ tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác, không phụ thuộc vào hiện trạng và mục đích khai thác tài nguyên (để bán ngay, đem trao đổi, tiêu dùng nội bộ, dự trữ đưa vào sản xuất tiếp theo.
Doanh nghiệp khai thác khoáng sản khai thuế tài nguyên theo tháng, quyết toán thuế năm, khi quyết toán thuế NNT phải lập Bảng kê chi tiết sản lượng khai thác trong năm theo từng mỏ tương ứng với Giấy phép được cấp. Quản lý Thuế tài nguyên đối với các doanh nghiệp tại Cục Thuế cấp tỉnh Qu1. Quản lý Thuế tài nguyên đối với các doanh nghiệp tại ong lĩnh vực thuế được thực hiện thông qua việc xây dựng chính sách thuế và quản lý thu thuế; xây dựng chiến lược quản lý thuế từng kỳ; tổ chức thực thi pháp luật thuế, điều hành, tác động và giám sát nhằm đảm bảo NNT chấp hành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật. Quản lý Thuế tài nguyên đối với các doanh nghiệp tại ong lĩnh vực thuế được thực hiện thông qua việc xây dựng chính sách thuế và quản lý thu thuế; xây dựng chiến lược quản lý thuế từng kỳ; tổ chức thực thi pháp luậg dẫn người dân thực hiện đúng các quy định pháp luật về thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác (gọi chung là thuế) vào NSNN; phối hợp với tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện các quy định pháp luật về thuế.
Nội dung quản lý thuế bao gồm: (1) Xây dựng tổ chức bộ máy ngành Thuế và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu quản lý thuế; (2) Hoạch định chính sách, bao 5 gồm cả chính sách điều tiết qua thuế và chính sách quản lý; (3) Xây dựng quy trình tổ chức, quản lý thuế bao gồm các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn, thu thập thông tin từ đối tượng nộp thuế, xác định mục thu, tổ chức thu; (4) Thanh tra, kiểm tra thuế. Từ khái niệm nêu trên cho thấy: Chủ thể của quản lý thuế là Nhà nước, trong đó cơ quan lập pháp với vai trò là người nghiên cứu, xây dựng hệ thống pháp luật thuế; cơ quan hành pháp với tư cách là người điều hành trực tiếp công tác thu và nộp thuế; hệ thống các cơ quan chuyên môn giúp cho cơ quan hành pháp (CQT, cơ quan hải quan) thay mặt cho Nhà nước tổ chức và thực hiện thu thuế. Đối tượng quản lý thuế là người nộp thuế, gồm các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN. Mục tiêu của quản lý thuế là huy động nguồn lực tài chính từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội cho Nhà nước thông qua việc ban hành và tổ chức thi hành pháp luật thuế.
Công cụ quản lý thuế là Luật pháp, chính sách Nhà nước về thuế và các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ công tác quản lý như: CNTT, hồ sơ, chứng từ kê khai, nộp thuế… Quản lý thuế là một hệ thống nhất giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với nhau và giữa xây dựng chính sách thuế với tổ chức hành thu. Quá trình tác động, điều hành thu thuế gắn với quá trình thực hiện các chức năng quản lý của Nhà nước và quá trình này phải tuân thủ các quy luật khách quan. Từ những phân tích trên, luận văn quan niệm quản lý thuế tài nguyên là quá trình tác động có mục đích, có ý thức của Nhà nước vào việc huy động các nguồn thu từ thuế tài nguyên tập trung vào NSNN thông qua các văn bản pháp lý, các phương pháp và các tổ chức, các cơ quan chức năng nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Quản lý thuế tài nguyên có ba cấp độ: Đối với công chức thuế, quản lý nhà nước đối với thuế tài nguyên bao gồm ba hoạt động riêng biệt, liên tiếp nhau: xác định đối tượng nộp thuế, xác định số thuế phải nộp và thu thuế.
Chức năng chủ yếu của quản lý ở đây là kiểm soát sự tuân thủ và áp dụng các khoản phạt theo luật thuế để răn đe những đối tượng nộp thuế vi phạm. Đối với cơ quan thuế, quản lý nhà nước đối với thuế tài nguyên là một quá trình giống như quá trình sản xuất, trong đó, đầu vào gồm nhân công (công chức thuế), tài liệu và các thông tin, còn đầu ra là số thu cho Nhà nước và sự công bằng cho NNT. Đối với tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với thuế tài nguyên bao gồm các hoạt động: hoạch định mục tiêu phải thực hiện cho một thời gian nhất định, xây dựng tổ 6 chức bộ máy tương ứng để thực hiện được mục tiêu đã đề ra; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp và thực hiện kiểm tra, kiểm soát quá trình thực hiện.