Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG THANH TRA PHÁP LUẬT VỀ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về thanh tra pháp luật về thuế đối với các doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thanh tra 1. Khái niệm thanh tra Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, thanh tra là: kiểm soát xem xét tại ch việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp.
Với nghĩa này, thanh tra bao hàm việc kiểm soát, xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định. Thanh tra là hoạt động của một chủ thể có thẩm quyền: Người làm nhiệm vụ thanh tra, đoàn thanh tra và đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định. Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân (Trần Đức Lượng). Về mặt pháp lý, theo Điều 2 Luật Thanh tra 2022 quy định: “Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Hoạt động thanh tra bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành” (Quốc hội khóa 15, Luật Thanh tra số 11/2022/QH15, 2022). Thanh tra hành chính là thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước. 6 Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm về thanh tra chuyên đề diện rộng, nhưng có thể hiểu thanh tra chuyên đề diện rộng là một hình thức, cách thức tiến hành thanh tra hành chính do một cơ quan thanh tra chủ trì với sự tham gia của nhiều cơ quan thanh tra khác nhau với mục đích là nhằm tổng kết, đánh giá toàn diện việc thực hiện chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ công tác trên phạm vi rộng. Đặc điểm thanh tra Thanh tra luôn gắn với quản lý nhà nước Với tư cách là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, thanh tra gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước.
Lênin đã viết: “Quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh tra là một chứ không phải là hai”. Như vậy, quản lý nhà nước và thanh tra có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong mối quan hệ này, quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra. Tuy nhiên, xét về mặt cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là phương tiện, công cụ để quản lý nhà nước.
Thanh tra mang tính quyền lực nhà nước Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra gắn bó chặt chẽ với tính quyền uy - phục tùng, một đặc tính quan trọng của quản lý nhà nước. Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra được thể hiện ở những mặt: Ra các quyết định bắt buộc thực hiện đối với đối tượng thanh tra (ĐTTT) về những vấn đề đã bị thanh; trong quá trình thanh tra, trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước khi cần thiết; Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra; yêu cầu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người vi phạm pháp luật… Thanh tra có tính khách quan Tính khách quan của hoạt động thanh tra được biểu hiện ở chỗ mọi hoạt động thanh tra đều dựa trên cơ sở pháp luật và phải tuân theo pháp luật. Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào 7 hoạt động thanh tra. Mọi nhận định, đánh giá trong quá trình thanh tra và đưa ra kết luận thanh tra phải dựa trên chứng cứ có thật, sự kiện thực tế, không bình luận chủ quan.
Tính khách quan đảm bảo hoạt động thanh tra được minh bạch, khách quan, công bằng. Thanh tra có tính độc lập tương đối Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan quản lý nhà nước tự tiến hành, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một cơ quan chuyên trách có nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Luật Thanh tra 2022 đã tập trung tăng cường các nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra cũng như người đứng đầu các cơ quan này: Các cơ quan thanh tra có quyền chủ động tiến hành thanh tra theo kế hoạch đã được phê duyệt; Thủ trưởng cơ quan thanh tra tự quyết định thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm về quyết định của mình…. Vai trò của thanh tra Công tác thanh tra có vai trò quan trọng là một bộ phận hợp thành của công tác lãnh đạo chỉ đạo, phục vụ thiết thực cho sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và là một trong ba yếu tố quyết định sự thành công của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Vai trò của thanh tra thể hiện qua những điểm sau: Thanh tra là một trong những phương thức phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Công tác thanh tra góp phần phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, việc phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật sẽ có tác dụng hạn chế, răn đe và do đó có tác dụng phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ tài sản nhà nước, quyền và lợi ích của công dân. Thanh tra góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật. Qua hoạt động thanh tra, các cơ quan phát hiện những sơ hở trong cơ chế chính sách, pháp luật, hạn chế những hành vi tham nhũng, lãng phí, gian lận và cá hành vi 8 vi phạm pháp luật khác.
Các cơ quan thanh tra cũng phát hiện những điểm bất hợp lý, thiếu tính khả thi trong các quy định của pháp luật cũng như các thủ tục hành chính rườm rà, nhiều tầng nấc. Qua đó kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách pháp luật, khắc phục kẽ hở của pháp luật, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật. Thanh tra góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Công tác thanh tra có vai trò quan trọng, là bộ phận hữu cơ của cơ quan quản lý nhà nước.
Bởi quản lý nhà nước, quản lý xã hội mà không có thanh tra, kiểm tra xem như không có quản lý. Khái niệm, nguyên tắc hoạt động và vai trò của thanh tra pháp luật về thuế đối với các doanh nghiệp 1. Khái niệm Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được Nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật. Sự ra đời của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhả nước.
Bời vậy, thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước vả là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của minh. Nếu phân loại theo đối tượng chịu thuế: có thể chia hệ thống thuế thành ba (03) loại sau: Thuế thu nhập: Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập nhộn dược, thu nhập này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như thu nhập từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ phần. Do vậy thuế thu nhập cũng có nhiều hình thức khác nhau: Thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp. Thuế tiêu dùng: Thuế tiêu dùng là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là phần thu nhập được mang tiêu dùng trong hiện tại, bao gồm: Thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng.
9 Thuế tài sản: Thuế tài sản là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là giá trị tài sản, bao gồm: Thuế bất động sản là thúc tài sản đánh trên giá trị của tài sản cố định, thuế động sản là thuế đánh trên tài sản chính. Nếu phân loại theo phương thức đánh thuế: hệ thống thuế gồm 2 loại sau: Thuế trực thu: Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế, bao gồm: Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhà đất. Thuế gián thu: Thuế gián thu là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ, bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Pháp luật thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người nộp thuế nhằm hình thành nguồn thu ngân sách nhà nước để thực hiện các mục tiêu xác định trước. Thanh tra pháp luật về thuế đối với DN là thanh tra hành chính thuộc dạng thanh tra chuyên đề. Thanh tra chuyên đề là thanh tra hành chính việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý theo ngành, lĩnh vực. Như vậy, thanh tra pháp luật về thuế là việc các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiến hành những hoạt động mang tính chất chuyên môn nghiệp vụ đối với các đối tượng nộp thuế và các chủ thể có liên quan trong lĩnh vực thuế nhằm phát hiện, xử lý vi phạm trong việc tuân thủ pháp luật về thuế của các đối tượng đó.
Thanh tra pháp luật về thuế là kiểm tra đối tượng nộp thuế ở mức độ cao hơn, toàn diện hơn.