Chương 1: Giới thiệu Trình bày lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày các khái niệm, các mô hình nghiên cứu trước, các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, thang đo của các khái niệm nghiên cứu và mẫu nghiên cứu và phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả nghiên cứu định lượng để kiểm định thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết đề ra. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày tóm tắt các kết quả chính, những đóng góp và những hạn chế của đề tài nghiên cứu nhằm định hướng cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo.
Tài liệu tham khảo Phụ lục Võ Phi Thắng (MSHV: 1970209) Trang 7 Luận văn Thạc sĩ CHƯƠNG II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Sử dụng mạng xã hội tại nơi làm việc (Social media use at work) Mạng xã hội là một nền tảng trực tuyến với rất nhiều dạng thức và tính năng khác nhau, giúp mọi người dễ dàng kết nối từ bất cứ đâu. Ngày nay, mạng xã hội đang thể hiện được những cơ hội lớn để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hoạt động quản lý tri thức (Zhang và cộng sự, 2016). Hệ thống mạng xã hội sử dụng một số công cụ công nghệ hoạt động trong một nền tảng xã hội để tạo điều kiện tương tác và trao đổi thông tin giữa những người trong môi trường xã hội ảo và nơi làm việc (Cao và cộng sự, 2016).
Các công cụ mạng xã hội (ví dụ: facebook, zalo,…) được sử dụng nơi làm việc để bổ sung trong quy trình quản lý tri thức, với công cụ này hầu hết được điều chỉnh phù hợp với bối cảnh của từng tổ chức (Klier và cộng sự, 2015). Các công nghệ mạng xã hội hỗ trợ chuyên nghiệp trong quản lý tri thức, cung cấp tài nguyên cho bất kỳ người nào tương tác và giao tiếp với những người khác. Ví dụ, Ali-Hassan và cộng sự (2015) nhận thấy rằng việc sử dụng mạng xã hội có thể tích cực nâng cao khía cạnh nhận thức của nguồn vốn xã hội. Các công nghệ thông tin xác định mạng xã hội thực sự có lợi cho thực tiễn đối thoại, hỗ trợ thực hành quản lý tri thức.
Sử dụng mạng xã hội tại nơi làm việc là sử dụng các công cụ mạng xã hội để chia sẻ kiến thức, tương tác, giao tiếp và tăng cường quản lý tri thức giữa các thành viên trong nhóm làm việc (Cao và cộng sự, 2019). Ví dụ, kho tri thức là một trong những yếu tố cơ bản của quản trị tri thức, xác định quyền sở hữu và tạo điều kiện cho việc phổ biến, sử dụng và tạo ra kiến thức mới. Các tổ chức sử dụng các công cụ trực tuyến, các diễn đàn cũng áp dụng các giao thức truyền thông để cho phép các thành viên hỗ trợ hợp tác thực hành các hoạt động quản lý tri thức. Do đó, các thành viên trong nhóm có thể sử dụng mạng xã hội tại nơi làm việc để cải thiện điều kiện làm việc nhóm và tăng cường quản lý tri thức.
Mạng xã hội cung cấp nhiều công cụ cho môi trường làm việc trong nhóm, trao quyền cho các thành viên để tăng sức mạnh mối quan hệ và cho phép giao tiếp thường xuyên giữa họ (Cao và cộng sự, 2019). Các nghiên cứu trước đây về sử dụng mạng xã hội cho thấy sự tương tác và giao tiếp thường xuyên giữa các thành viên trong nhóm giúp họ hiểu ai có kiến thức nào bổ sung vào kho tri thức, (Iqbal và Piwowar-Sulej, 2023). Vì vậy, sử dụng mạng xã hội tại nơi làm việc ảnh hưởng đến tích cực đến hiệu quả làm việc theo nhóm. Võ Phi Thắng (MSHV: 1970209) Trang 8 Luận văn Thạc sĩ Ngoài ra, mạng xã hội là sự kết hợp của một số công cụ nhất định và các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả công việc bằng cách hỗ trợ các hoạt động quản lý tri thức.
Theo Sigala và Chalkiti (2015) đã cho rằng mạng xã hội là một kho lưu trữ kiến thức nguồn mở, tạo điều kiện cho việc chia sẻ, thảo luận và đồng sáng tạo kiến thức. Kho tri thức và đồng sáng tạo tri thức mang ý nghĩa là sự sáng tạo tri thức, điều này cho phép người ghi chép “ai biết cái gì”, “ai có cái gì”.2 Tin tưởng (Trust) Tin tưởng được tạo dựng và duy trì trong nhóm làm việc của các thành viên theo thời gian, không gian và văn hóa (Sirkka L. Jarvenpaa và cộng sự, 1999). Một số yếu tố, chẳng hạn như các chuẩn mực xã hội được chia sẻ, được lặp lại trong các tương tác, trải nghiệm được chia sẻ, được đề xuất để tạo điều kiện cho sự phát triển của sự tin tưởng (Jarvenpaa và cộng sự, 1999).
Trong môi trường tin tưởng, mọi người có xu hướng tin rằng hành vi của họ sẽ dẫn đến những hậu quả thuận lợi vì những người khác có thể cộng tác với họ và sẵn sàng mở rộng sự trợ giúp. Khi mọi người tin tưởng lẫn nhau, họ tin rằng những người khác sẳn lòng và có thể chia sẻ kiến thức của họ và họ sẽ phát triển nghĩa vụ chia sẻ (Jarvenpaa và cộng sự, 1999) dẫn đến hiệu quả của việc làm việc nhóm qua các công cụ trực tuyến. Vì vậy, tin tưởng thường được xem là rất quan trọng đối với các quy trình và hiệu suất hoạt động hiệu quả của nhóm (Iacono và Weisband, 1997). Trên thực tế, sự tin tưởng được cho là rất quan trọng đối với làm việc nhóm trên các nền tảng mạng xã hội (Jackson và cộng sự 1995, DeSanctis và Poole 1997), ảnh hưởng đối với hiệu suất và hiệu quả của làm việc nhóm qua mạng xã hội còn hơn cả nhìn thấy bằng mắt (Meyerson và cộng sự, 1996; Iacono và Weisband, 1997), và nghiên cứu của Iacono và Weisband (1997) cũng thể hiện rằng sự tin tưởng điều chỉnh tác động của các biến về hiệu quả của nhóm làm việc qua mạng xã hội.
Bên cạnh đó, với sự tin tưởng, cá nhân có thêm nội dung để theo đuổi mục tiêu công việc của họ và thích ứng với các tình huống luôn thay đổi (Mowshowitz 1997; Kristof và cộng sự, 1995). Sự tin tưởng này cũng có thể tạo điều kiện cho việc nâng cao sự nhanh nhẹn thông qua việc thúc giục cá nhân bày tỏ ý kiến của họ (Meyerson và cộng sự, 1996). Do đó, tin tưởng là để cá nhân tạo ra các hành vi nhanh nhẹn (Meyerson và cộng sự, 1996), và cho phép cá nhân nắm bắt cơ hội, thích ứng với những thay đổi và tư duy độc lập, từ đó tối ưu hóa hiệu suất và hiệu quả công việc của họ. Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng việc xây dựng tin tưởng trong môi trường mạng xã hội là một thách thức do các thành viên trong nhóm thường không có quá khứ chung và có thể không có tương lai để lấy làm cơ sở để xây dựng sự tin tưởng trong quá trình tương tác của mỗi người với nhau.
Do Võ Phi Thắng (MSHV: 1970209) Trang 9 Luận văn Thạc sĩ đó, sự tin tưởng hàm ý rằng nhận thức có liên quan đáng kể đến việc chia sẻ kiến thức (Bradach và Eccles, 1988, Mayer và cộng sự, 1995, Lewis và Weigert, 1985).3 Chất lượng giao tiếp (Communication quality) Giao tiếp là một quá trình trong đó các bên tham gia tạo ra hoặc chia sẻ thông tin, cảm xúc với nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp. Theo Kay và cộng sự (2022) mô tả chất lượng giao tiếp trong một nhóm được thể hiện về tần suất và hình thức trao đổi thông tin. Tần suất là tần số giao tiếp giữa các thành viên trong nhóm và lượng thời gian dành cho nó, thể hiện mức độ tự phát trong giao tiếp. Giao tiếp đòi hỏi nhiều kế hoạch và bao gồm báo cáo bằng văn bản,…được xem là chính thức, các ý tưởng và đóng góp thường được chia sẻ, thảo luận và đánh giá với các thành viên khác trong nhóm nhanh chóng và hiệu quả hơn trong giao tiếp không chính thức hơn là chính thức (Kay và cộng sự, 2022).
Điều quan trọng đối với chất lượng giao tiếp là các thành viên trong nhóm chia sẻ thông tin của họ một cách cởi mở với nhau (Sidorenkov và cộng sự, 2023). Thiếu giao tiếp cởi mở có thể cản trở việc chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm có thể liên quan đến các nhiệm vụ chung. Trong các các nhóm làm việc, các thành viên trong nhóm làm việc năng nỗ được bố trí gần nhau trong các văn phòng có không gian mở để kích thuchs giao tiếp thân mật và cởi mở. Như vậy, giao tiếp là các biểu hiện mang tính hướng ngoại và bề mặt khi con người thể hiện các tiếp xúc tương tác với các cá nhân khác trong cộng đồng.
Chất lượng giao tiếp là quá trình, trong đó con người chia sẻ với nhau các ý tưởng, thông tin và cảm xúc, nhằm xác lập và vận hành các mối quan hệ trong đời sống xã hội vì những mục đích nhất định thông quan sử dụng kỹ thuật công nghệ mạng xã hội để đạt hiệu quả trong công việc.4 Chất lượng phối hợp (Coordination quality) Phối hợp là quá trình tương tác giữa các cá nhân trong tổ chức để hoàn thành một tập hợp nhiệm vụ của tập thể (Deng và cộng sự, 2022; Lindsjorn & cộng sự, 2016). Sử dụng mạng xã hội có thể tạo điều kiện phối hợp của các cá nhân và nhóm làm việc nhằm cải thiện nỗ lực phối hợp của họ để hoàn thành các hoạt động công việc trong nền tảng số hóa (Lindsjorn & cộng sự, 2016). Nâng cao chất lượng phối hợp bằng công nghệ kỹ thuật số như vậy có tác động tích cực đến việc ra quyết định (Ahmed và cộng sự, 2019; Chen và cộng sự, 2019). Deng & cộng sự (2022) cho thấy rằng công nghệ kỹ thuật số có khả năng hỗ trợ phối hợp và cộng tác giữa các cá nhân, dẫn đến việc ra quyết định hiệu quả.
Ahmed và cộng sự (2019) cho thấy rằng việc sử dụng các công nghệ mạng xã hội của của doanh nghiệp có thể tạo điều kiện để phối hợp giữa các các nhân. Võ Phi Thắng (MSHV: 1970209) Trang 10 Luận văn Thạc sĩ Theo (Lindsjorn & cộng sự, 2016) mô tả phối hợp là quản lý sự phụ thuộc giữa các hoạt động. Những phụ thuộc như vậy bao gồm tài nguyên được chia sẻ, phân công nhiệm vụ và mối quan hệ nhiệm vụ/ nhiệm vụ con.