Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và đặc điểm về dịch vụ logistics 1. Khái niệm về logistics và dịch vụ logistics Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc từ Hi Lạp – logistikos- xuất hiện lần đầu không phải trong lĩnh vực thương mại mà trong lĩnh vực quân sự.
Trong các cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế La Mã và Hy Lạp, những binh lính mang chức danh Logistikos có nhiệm vụ cung ứng và phân phối vũ khí, nhu yếu phẩm cho quân đội. Trải qua dòng chảy lịch sử, logistics phát triển nhanh chóng, trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trở thành một ngành dịch vụ chiếm vai trò không thiếu trong sự vận động của giao thương quốc tế. Được nghiên cứu và áp dụng sang lĩnh vực kinh doanh, dưới góc độ doanh nghiệp, thuật ngữ “Logistics” thường được hiểu là hoạt động quản lý chuỗi cung ứng hay quản lý hệ thống phân phối vật chất của doanh nghiệp. Hiện nay có khá nhiều khái niệm về logistics như sau: Theo Giáo sư David Simchi-Levi (MIT) thì: “Hệ thống logistics là một nhóm các cách tiếp cận được sử dụng để liên kết các nhà cung cấp, nhà sản xuất, kho, cửa hàng một cách hiệu quả để hàng hóa được sản xuất và phân phối đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời điểm nhằm mục đích giảm thiểu chi phí trên toàn hệ thống đồng thời đáp ứng được các yêu cầu về mức độ phục vụ” Theo Hội đồng quản trị logistics của Mỹ “Logistics là một phần của quá trình chuỗi cung ứng, thực hiện hoạch định, thực hiện và kiểm soát dòng lưu chuyển, tồn trữ hàng hóa, dịch vụ và thông tin có liên quan một cách hiệu quả, hiệu năng từ điểm đầu đến điểm tiêu thụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng”.
Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2011) “Logistics là tối ưu hóa về địa điểm và thời điểm, tối ưu hóa việc lưu chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ đầu vào cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí thích hợp, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Như vậy, dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt và cách trình bày, nhưng trong nội dung tất cả các tác giả đều cho rằng “Logistics chính là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra 4 sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng. Mục đích giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh, với thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hoá một cách kịp thời”. Tuy nhiên ở đây không chỉ có sự vận động của “nguyên vật liệu, hàng hoá” mà cần phải bao gồm thêm cả dòng luân chuyển “dịch vụ, thông tin”.
Logistics không chỉ hạn chế trong sản xuất mà nó còn liên quan đến mọi tổ chức bao gồm chính phủ, bệnh viện, ngân hàng, người bán lẻ, người bán buôn… Dịch vụ logistics Nếu như hoạt động logistics là một chức năng hỗ trợ trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì dịch vụ logistics được hiểu là một loại sản phẩm dịch vụ do nhà cung cấp là các doanh nghiệp logistics bán cho khách hàng và thu phí dịch vụ logistics. Khách hàng ở đây là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoặc các cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics. Theo Luật Thương mại Việt Nam thì “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận tư vấn khách hàng, đóng góp bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thoản thuận với khách hàng để hưởng thù lao” (mục 4, điều 233, Luật Thương mại 2018) Khái niệm dịch vụ logistics được chia thành hai nhóm như sau: Thứ nhất, nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật thương mại 2005, coi logistics gần tương tự với giao nhận hàng hóa. Tuy nhiên trong đó có tính mở, thể hiện trong đoạn “hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa”.
Theo nhóm này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Theo đó, dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO). Thứ hai, nhóm định nghĩa dịch vụ logistics theo phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo nhóm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu tư cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào 5 các kênh lưu thông, phân phối để tới tay người tiêu dùng cuối cùng.
Nhóm định nghĩa này kể về dịch vụ logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản lý… 1. Đặc điểm của dịch vụ logistics Dịch vụ logistics mặc dù là 1 loại dịch vụ đặc thù, nhưng nó vẫn mang đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ nói chung, bao gồm: + Tính vô hình: Cũng như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ logistics mang tính chất vô hình. Khách hàng sẽ không thể biết mình nhận được gì nếu như chưa sử dụng dich vụ, nói cách khác, bán dịch vụ chính là bán một lời hứa rằng doanh nghiệp sẽ đem đến cho khách hàng một điều gì đó. Logistics thực hiện các công việc chu chuyển và lưu kho hàng hóa, cùng các dịch vụ và thông tin có liên quan từ địa điểm xuất phát đến nơi tiêu dùng, do vậy nó không phải là một sản phẩm vật chất hay một cái gì đó hiện hữu, khách hàng không thể cầm nắm, không thể hình dung trước được Logistics là sản phẩm như thế nào mà phải chờ đợi kết quả của quá trình vận chuyển, lưu kho… +Tính không tách rời: Đặc tính này thể hiện ở quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ logistics diễn ra đồng thời.
Ví dụ khách hàng sử dụng dịch vụ của công ty logistics, thuê công ty này vận chuyển hàng hóa từ kho của công ty đến cảng biển, thì lúc đó công ty logistics đang cung cấp dịch vụ và khách hàng đồng thời sử dụng dịch vụ. Sự diễn ra đồng thời này mặc dù có những ưu điểm nhất định nhưng mang đến không ít khó khăn cho cả 2 bên, khó dự đoán những rủi ro có thể xảy ra đồng thời tính toán kĩ lưỡng về thời gian cũng như tính chính xác khi cung cấp dịch vụ. +Tính không dự trữ được: Do tính chất vô hình và không thể tách rời giữa quá trình cung cấp và sản xuất dẫn tới dịch vụ logistics không thể dự trữ mà chỉ được sản xuất và cung ứng khi có nhu cầu của khách hàng. Chính điều này tạo nên sự mất cân đối cung - cầu về dịch vụ trong những thời điểm khác nhau.
Thông thường vào những tháng cuối năm và đầu năm, cầu về dịch vụ logistics tăng rất cao, trong khi những tháng giữa năm cầu lại ở mức thấp và trung bình, dẫn tới xảy ra tình trạng bên cung ứng lúc thì khan hiếm khách hàng, lúc lại bị quá tải, không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Điều này gây lãng phí một nguồn 6 lực lớn cũng như ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng của các bên tham gia. Để hạn chế được điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của cả bên thuê dịch vụ và cung cấp dịch vụ, thông tin trao đổi thường xuyên, kiểm soát chặt chẽ tình trạng dư cầu vào thời điểm chính vụ là những tháng cuối năm khi nhu cầu giao nhận, vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu tăng mạnh. + Tính không đồng đều về chất lượng: Chất lượng dịch vụ logistics rất khó để tiêu chuẩn hóa được bởi bản thân dịch vụ logistics phụ thuộc vào yếu tố như: yếu tố máy móc, thiết bị, điều kiện môi trường do không gian cung ứng có tính phân tán, ngoài ra chất lượng dịch vụ logistics còn phụ thuộc vào trình độ quản trị kinh doanh, khả năng kiểm soát quá trình cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp, sự đánh giá của khách hàng, đối thủ cạnh tranh.
Tức là mỗi lần cung cấp dịch vụ lại có những yếu tố khác nhau tác động đến cách thức cung cấp. Thêm nữa, tùy theo từng loại dịch vụ mà khách hàng yêu cầu, tùy theo tính chất hàng hóa, thời gian mà doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sẽ quyết định cách thức phục cho phù hợp. Do bản thân dịch vụ logistics phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vậy cho nên chất lượng dịch vụ logistics sẽ dễ dàng bị biến đổi khi ít nhất một trong các yếu tố đó có sự thay đổi. Vai trò và phân loại doanh nghiệp logistics 1.
Khái niệm và vai trò của doanh nghiệp logistics a) Khái niệm Doanh nghiệp logistics Căn cứ Luật thương mại 2005 tại Điều 233 và 234 và một số điều khoản của Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 05/05/2007 về điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các loại dịch vụ logistics. Tác giả xin được rút ra khái niệm về doanh nghiệp logistics như sau: Các doanh nghiệp logistics (LP’s - Logistics Providers) là các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp và có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật. Họ là những tổ chức có khả năng cung ứng các dịch vụ logistics đơn lẻ hoặc tích hợp các dịch vụ đơn lẻ thành các gói dịch vụ logistics khác nhau để đáp ứng nhu cầu của khách hàng là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và thương mại trong nước và ngoài nước”. Doanh nghiệp Logistics tạo mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa góp phần hỗ trợ giao 7 dịch kinh tế diễn ra nhịp nhàng, đồng bộ khi hoạt động các doanh nghiệp logistics trong ngành hoạt động nhịp nhàng.
Với chức năng là cầu nối quan trọng giữa sản xuất và tiêu thụ hàng hóa thì hoạt động doanh nghiệp logistics góp phần quan trọng giúp hàng hóa sẽ có được dòng chảy đầu vào đảm bảo và chất lượng.