phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ ngƣời nộp thuế trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế. - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ ngƣời nộp thuế trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế tại Chi cục Thuế Thành phố Hải Dƣơng. - Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ ngƣời nộp thuế trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế tại Chi cục Thuế Thành phố Hải Dƣơng. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN, HỖ TRỢ NGƢỜI NỘP THUẾ TRONG CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP THUẾ 1.
Cơ sở lý luận về hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ ngƣời nộp thuế trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế. Khái niệm và vai trò của thuế 1. Khái niệm về thuế Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chƣa có thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế. Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau.
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đƣa ra một định nghĩa tƣơng đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nƣớc thông qua con đƣờng quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nƣớc. Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc.” Trên góc độ ngƣời nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nƣớc theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc.” Trên góc độ kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tƣ sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nƣớc.” Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Theo từ điển tiếng việt: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà ngƣời dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nƣớc theo mức quy định.” Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra đƣợc một số đặc trƣng chung của thuế là: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế đƣợc đặc trƣng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh dƣới nhà nƣớc và các pháp nhân, các thể nhân trong xã hội. Thứ hai, những mỗi quan hệ dƣới dạng tiền tệ này đƣợc nảy sinh một cách khách quan và có ỹ nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nƣớc. Thứ ba, xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho nhà nƣớc đƣợc pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Từ các đặc trƣng trên của thuế, ta có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế là: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”. Vai trò của thuế Thứ nhất: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Hệ thống tài chính của một quốc gia lành mạnh phải dựa vào chủ yếu nguồn thu nội bộ từ nền kinh tế quốc dân. Để có một ngân sách lành mạnh, trƣớc hết phải dựa vào nguồn thu trong nƣớc, mà trong đó thuế là nguồn thu chủ yếu (từ 80 đến 90%). Nguồn thu của thuế lấy từ thu nhập quốc dân sản xuất, khả năng động viên của thuế phụ thuộc cơ bản vào sự phát triển và hiệu quả sản xuất, trình độ và ý thức tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng của doanh nghiệp và ngƣời dân.
Vì vậy, chính sách động viên về thuế phải đƣợc đặt trong mối quan hệ chung theo hƣớng xoá bỏ các khoản chi bao cấp, không tận thu để đảm bảo chi, phải thu đúng thu đủ nhằm bồi dƣỡng phát triển nguồn thu lâu dài trên nguyên tắc phân phối hợp lý thu nhập quốc dân giữa nhà nƣớc và xã hội. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Muốn vậy hệ thống thuế và chính sách thuế mới phải đƣợc áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế, phải bao quát đƣợc hết hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập của doanh nghiệp và xã hội để đảm bảo yêu cầu vốn, thực hiện mục tiêu tăng trƣởng cao hơn. Thứ hai: Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của nền kinh tế Thuế không chỉ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN hằng năm mà còn là công cụ của Nhà nƣớc để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Để phát huy tốt tác dụng điều tiết vĩ mô của chính sách thuế, nhìn chung ở nƣớc ta cũng nhƣ các nƣớc khác trên thế giới, nội dung của chính sách thuế thƣờng xuyên thay đổi cho phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế xã hội và phù hợp với tình hình kinh tế, tài chính.
Thứ ba: Thuế góp phần tạo môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế Việc áp dụng chính sách thuế thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế trong phạm vi cả nƣớc đã góp phần tạo nên sân chơi bình đẳng, thúc đẩy cạnh tranh và khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế trong phạm vi cả nƣớc góp phần tạo ra sân chơi bình đẳng thúc đẩy cạnh trạnh và khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế. Trong quá trình triển khai thực hiện, chính sách thuế luôn đƣợc điều chỉnh linh hoạt, kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ tư: Thuế góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thuế phục vụ định hƣớng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ cung cầu của thị trƣờng. Có nhu cầu tất yếu đòi hỏi phải phát triển sản xuất, dịch vụ để cung ứng đủ nhu cầu và ngƣợc lại. Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là làm tăng tổng cung gắn với kích cầu để quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt kết quả tốt. Tổng cầu tăng hay giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan, Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 chủ yếu là thu nhập của các tầng lớp dân cƣ, giá cả từng sản phẩm, cơ cấu hàng hoá trên thị trƣờng.
Thuế góp phần phân bổ lại nguồn lực nhằm thực hiện tốt chƣơng trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Phan Thị Cúc - Trần Phước - Nguyễn Thị Mỹ Linh, 2007). Phân loại thuế Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế trong hệ thống thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Có nhiều tiêu thức phân loại khác nhau, mỗi tiêu thức phân loại có nhiều loại thuế khác nhau: 1.1 Phân loại theo đối tượng chịu thuế Căn cứ vào đối tƣợng chịu thuế có thể chia hệ thống thuế thành các sắc thuế sau: + Thuế Giá trị gia tăng: thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. + Thuế Thu nhập doanh nghiệp: Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp.
+ Thuế Thu nhập cá nhân: Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập của từng cá nhân. + Thuế Tiêu thụ đặc biệt: Là loại thuế gián thu đánh vào sự tiêu dùng một số loại hàng hóa, dịch vụ đặc biệt theo danh mục do Nhà nƣớc qui định. + Thuế nhập khẩu, xuất khẩu: Là một loại thuế đánh vào các hàng hoá mậu dịch, phi mậu dịch đƣợc phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam. + Thuế tài nguyên: Thuế tài nguyên là một khoản thu bắt buộc đối với các tổ chức và cá nhân có hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên không phụ thuộc vào cách thức tổ chức và hiệu qủa sản xuất kinh doanh của ngƣời khai thác + Thuế Môn bài: Là một loại thuế thu vào khai trƣơng nghề nghiệp trong một năm, đƣợc tính vào đầu năm đối với các thể nhân, pháp nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh.
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 + Thuế Nhà đất: Thuế nhà đất là thuế thu đối với nhà và đối với đất ở, đất xây dựng công trình. + Thuế Sử dụng đất nông nghiệp: Tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp đều phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp (gọi chung là hộ nộp thuế). Hộ đƣợc giao quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không sử dụng vẫn phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.2 Phân loại theo phương thức đánh thuế Theo phƣơng thức đánh thuế thì hệ thống thuế gồm 2 loại sau: Thuế trực thu: Là thuế mà ngƣời, hoạt động, đồ vật chịu thuế và nộp thuế là một. Ví Dụ nhƣ một ngƣời nhập hàng hóa từ nƣớc ngoài về và tiêu dùng luôn, hay nhƣ thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, tài sản.
Thuế đánh lên thu nhập hoặc tài sản với kỳ vọng rằng ngƣời bị thu thuế sẽ thực sự là ngƣời bị mất sức mua. Thuế gián thu: là thuế mà ngƣời chịu thuế và ngƣời nộp thuế không cùng là một. Chẳng hạn, chính quyền đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công ty lại chuyển thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tƣợng chịu thuế là ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Ví dụ: thuế VAT, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.
đƣợc thu từ nhà sản xuất, ngƣời bán hàng với kỳ vọng chúng sẽ đƣợc chuyển sang cho ngƣời tiêu dùng.