chương 1, chúng ta tìm hiểu về “ Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực cho người lao động trong doanh ngiệp”. Trong chương này,chúng ta sẽ tìm hiểu về khái niệm chung nhất của động lực và tạo động lực, các yếu tố tạo động lực, một số học thuyết tạo động lực, phương hướng tạo động lực, sự cần thiết phải tạo động lực và một số kinh nghiệm tạo động lực… 1.1 Khái niệm và bản chất của động lực. Khái niệm Động lực được hiểu một cách chung nhất, là tất cả những cái gì thôi thúc con người, tác động lên con người thúc đẩy con người hoạt động Mỗi cá nhân khác nhau sẽ có những động lực khác nhau và khi có động lực thúc đẩy họ sẽ nỗ lực hết sức để đạt được những mong muốn, mục đích của mình.( Nguồn: giáo trình Quản trị nhân lực_ Ths. Nguyễn Vân Điểm & PGS.
Nguyễn Ngọc Quân_ NXB lao động xã hội năm 2006) Theo quan điểm Hành vi tổ chức: Động lực lao động là những yếu tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao .Biểu hiện của động lực là sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục đích của tổ chức cũng như của bản thân người lao động.( Nguồn: Giáo trình hành vi tổ chức_ PGS. Bùi Anh Tuấn_ Năm 2003) Với quan điểm coi nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định tới sự tồn tại và phát triển của một tổ chức, một doanh nghiệp,các nhà lãnh đạo và nhà quản lý luôn đặt ra câu hỏi, làm thế nào để người lao động làm việc một cách hăng say, nhiệt tình, làm thế nào để xây dựng được một đội ngũ nhân sự tận tâm, cống hiến hết sức mình với tổ chức. Khi tìm hiểu một tập thể người lao động làm việc, họ luôn thắc mắc tại sao khi cùng làm một công việc như nhau, với điều kiện, môi trường làm việc như nhau nhưng người này làm việc nghiêm túc, chăm chỉ, hết SVTH: Nguyễn Thị Hoa – K 19QT 3 sức mình và mang lại hiều quả, năng suất cao còn người khác thì ngược lại. Trong quá trình tìm hiểu đó, các nhà quản lý đã phát hiện ra rằng chính hệ thống nhu cầu, chính sự thỏa mãn nhu cầu và đạt được những lợi ích nhất định của người lao động đã tạo ra động cơ và động lực làm cho họ làm việc.
Bản chất của động lực. Nhu cầu là những đòi hỏi, mong ước của con người xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau như: tâm sinh lý, xã hội… Nó xuất phát từ trạng thái tâm lý khi con người cảm thấy thiếu thốn, không thỏa mãn về cái gì đó, thúc đẩy họ có những hành động để đạt được những đòi hỏi mong ước đó. Nhu cầu là một yếu tố tồn tại vĩnh viễn trong bất ký xã hội nào từ trước đến nay của loài người. Để tồn tại và phát triển, con người cần có những điều kiện nhất định như ăn , mặc, ở, vui chơi, giải trí…Chính những điều kiện đó tạo ra các nhu cầu và con người tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu của mình.
Khi xã hội phát triển, hệ thống nhu cầu của con người ngày càng phong phú và đa dạng. Có rất nhiều loại nhu cầu khác nhau như: nhu cầu vật chất – nhu cầu tinh thần; nhu cầu thiết yếu – nhu cầu không thiết yếu;…Khi nhu cầu này được thỏa mãn, lập tức xuất hiện các nhu cầu khác cao hơn và con người sẽ có những hành động thỏa mãn các nhu cầu này. Sự thảo mãn nhu cầu chính là việc nhu cầu đã được thỏa mãn về cơ bản. Giua nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu có một khoảng cách, khoảng cách này sẽ tạo động lực thúc đẩy con người hành động.
Tuy nhiên, nhu cầu không phải là động lực trực tiếp thôi thúc con người hành động mà chính là lợi ích mà họ nhận được mới là động lực chính thúc đẩy con người. Lợi ích chính là tất cả các giá trị vậ chất và tinh thần mà người lao động nhận được từ tổ chức, mà biểu hiện chính là tiền lương, tiền thưởng, các phúc lợi xã hội và dịch vụ khác, điều kiện môi trường làm việc thuận lợi, việc làm ổn định cho người lao động… từ đó, có thể thỏa mãn những nhu cầu của con người. Nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có nhu cầu thì không có lợi ích, lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu và nhu cầu chính là nội dung của lợi ích. Tương ứng với nhu cầu vật chất thì có lợi ích vật chất và với nhu cầu tinh thần có lợi ích tinh thần.
Những lợi ích vật chất như tiền lương, tiền thưởng, SVTH: Nguyễn Thị Hoa – K 19QT 4 các phúc lợi và dịch vụ…là những điều kiện đảm bảo nhu cầu tồn tại và phát triển con người. Còn những lợi ích tinh thần như điều kiện và môi trường làm việc thuần lợi, việc làm ổn định, được tôn trọng, quan tâm… là những biểu hiện thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, xã hội của con người. Khi nhu cầu xuất hiện, con người sẽ có hành động để thảo mãn nhu cầu và kết quả của hành động đó là con người nhìn thấy lợi ích mà họ sẽ có được. Lợi ích – cái mà họ có được – chính là động lực quan trọng thúc đẩy người lao động làm việc.
Lợi ích càng lớn thì động lực thúc đẩy con người hành động càng mạnh và người lại lợi ích càng bé thì động lực sẽ yếu đi thậm chí bị triệt tiêu. Do đó, nhu cầu của con người tạo ra động cơ lao động xong chính lợi ích của họ mới là động lực trực tiếp thúc đẩy họ làm việc hăng say và có hiệu quả cao. Nhưng chỉ khi có nhu cầu, có sự mong ước về điều gì đó con người mới có ý muốn hành động đạt được nó và đạt được như thế nào, lợi ích ra sao mới tạo động lực thúc đẩy họ hành động một cách có hiệu quả.2 Khái niệm về tạo động lực. Tạo động lực lao động là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật… nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, hăng say, nhiệt tình và có hiệu quả hơn trong công việc.
Đây chính là các hoạt động, các biện pháp của tổ chức, doanh ngiệp thực hiện đối với người lao động của mình nhằm làm cho họ có động lực trong công việc.( Nguồn: giáo trình Quản trị nhân lực_ Ths. Nguyễn Vân Điểm & PGS. Nguyễn Ngọc Quân_ NXB lao động xã hội năm 2004) Tạo động lực cho người lao động vừa là mục tiêu, vừa là trách nhiệm của nhà quản lý. Khi người lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra các khả năng, tiềm năng nâng cao năng suất lao động, làm tăng hiệu quả công việc.
Từ đó, giúp cho doanh ngiệp tồn tại và phát triển vững mạnh. Tạo động lực,hiểu một cách cụ thể, chính là việc tạo ra sự hấp dẫn trong công việc, cả kết quả thực hiện công việc, của tiền lương, tiền thưởng, của điều kiện làm việc, của các mối quan hệ trong công việc…và khi đó người lao động sẽ hăng hái, hưng phấn và làm việc một cách tự nguyên, tích cực và sáng tạo. Đó cũng chính là những lợi ích mà người lao động nhận được. Khi sự hấp dẫn càng lớn, lợi ích càng SVTH: Nguyễn Thị Hoa – K 19QT 5 lớn, động lực để người lao động làm việc càng cao, người lao động càng tích cực, hăng hái làm việc một cách tốt nhất để đạt được những lợi ích đó.
Do vậy, những nhà lãnh đạo nói chung và các người quản lý lao động nói riêng cần phải nắm bắt được các nhu cầu người lao động để đua ra những lợi ích hợp lý để thảo mãn nhu cầu của họ. Từ đó, tạo động lực để người lao động làm việc một cách tích cực, hiệu quả nhất. Các yếu tố tạo động lực cho người lao động. Các yếu tố thuộc về bản thân người lao động.
Đây là các yếu tố xuất phát từ chính bản thân người lao động và là động cơ, động lực thôi thúc người lao động làm việc, thực hiện những mục đích, mong muốn, những nhu cầu của mình. Nhóm yếu tố này bao gồm: 1. Mục tiêu của cá nhân Mục tiêu cá nhân là trạng thái mong đợi, là đích hướng tới của cá nhân. Mỗi cá nhân sẽ có một mục tiêu khác nhau và họ sẽ có những hoạt động và cách thức hoạt động khác nhau để đạt được mục tiêu đó.
Mục tiêu cá nhân chính là động cơ thôi thúc người lao động làm việc, khi họ có mục tiêu rõ ràng thì hành động của họ sẽ tốt hơn, hiệu quả hơn. Tùy thuộc vào cấp độ cao thấp của mục tiêu mà mức độ cố gắng, nỗ lực của cá nhân sẽ tương ứng, từ đó hình thành nên động lực lao động với mức độ phù hợp. Do đó, mỗi tổ chức cần phải có các biện pháp để hướng mục tiêu của người lao động phù hợp và không đi ngược lại mục tiêu chung của tổ chức. Muốn vậy, người quản lý cần phải luôn tiếp cận, quan tâm, tìm hiểu đến người lao động của mình.
Hệ thống nhu cầu của cá nhân. Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, hệ thống nhu cầu của con người ngày càng phong phú và đa dạng. Hệ thống nhu cầu của con người bao gồm: + Nhu cầu vật chất: Đây là nhu cầu hàng đầu, đảm bảo cho người lao động có thể sống và tạo ra của cải vật chất. + Nhu cầu tinh thần: Khi đời sống càng được nâng cao thì nhu cầu tinh thần, như: nhu cầu giao tiếp…được thỏa mãn thì làm con người thấy thoải mãi, yêu đời, cảm thấy hăng say, hứng thú trong công việc.
SVTH: Nguyễn Thị Hoa – K 19QT 6 + Nhu cầu học tập để nâng cao trình độ, chuyên môn và nhận thức: khi khoa học – ký thuật, công nghệ thông tin phát triển thì con người mong muốn được học tập, nâng cao trình độ nhận thức của mình để phù hợp với xu thể phát triển đó. + Nhu cầu công bằng xã hội: đây là một nhu cầu cấp bách và lâu dài của mọi người. Con người luôn cố gắng phấn đấu vì sự công bằng và đấu tranh chống mọi bất công, tiêu cực trong xã hội. Nghiên cứu hệ thống nhu cầu của người lao động sẽ cho biết người lao động muốn gì, cần gì? Người quản lý cần có những biện pháp thích hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu và thúc đẩy người lao động làm việc tích cực, hiệu quả hơn và hăng say, sáng tạo trong công việc.