Chương 1. Cơ sở lý luận về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai cấp huyện Chương 2. Thực trạng cải cách thủ tục hành chính về đất đai trên địa bàn huyện Phúc Thọ Chương 3. Giải pháp nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về đất đai trên địa bàn huyện Phúc Thọ 5 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI CẤP HUYỆN 1. Khái quát về thủ tục hành chính 1. Khái niệm thủ tục hành chính Để giải quyết một công việc nhất định đều cần có những thủ tục phù hợp. Theo nghĩa thông thường, thủ tục có nghĩa là phương cách giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể thống nhất.
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, thủ tục là “cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước”. Cũng có thể hiểu thủ tục là những quy tắc, chế độ, phép tắc hay quy định chung phải tuân theo khi làm việc công. Hoạt động quản lý Nhà nước được thể hiện qua các chính sách quản lý Nhà nước đó là những quy phạm pháp lý để hướng dẫn hoạt động quản lý Nhà nước, quản lý hoạt động của con người. Để cụ thể hóa những quy phạm pháp lý này, thủ tục là loại kế hoạch quy định trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết công việc.
Khoa học pháp lý gọi đó là những quy phạm thủ tục, quy phạm này gồm các bộ phận: thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp và thủ tục hành chính. Từ đây có thể hiểu hoạt động quản lý nhà nước nào cũng đều được tiến hành theo những thủ tục nhất định. Mỗi hoạt động quản lý theo cách nói thông thường (ví dụ, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hoạt động cấp giấy phép, hoạt động xử lý vi phạm hành chính…) thực chất là chuỗi những hoạt động diễn ra theo trình tự nhất định mà mỗi hoạt động cụ thể trong đó có thể được thực hiện bởi những chủ thể khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, với nội dung và nhằm những mục đích khác nhau. Kết quả của hoạt động quản lý phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó phụ thuộc một phần đáng kể vào số lượng, thứ tự các hoạt động cụ thể, mục đích, nội dung, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong một chuỗi hoạt động quản lý.
Thủ tục đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành bộ máy nhà nước cũng như bảo đảm quyền và lợi ích của người dân. Chính vì vậy, thủ tục tiến hành các hoạt động 6 quản lý nhà nước mới được quan tâm cả dưới góc độ nghiên cứu khoa học, xây dựng pháp luật thực hiện thủ tục trên thực tế. Bản thân thủ tục không có mục đích tự thân, thủ tục chỉ biểu hiện cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của Nhà nước. Vì vậy, thủ tục bị quy định bởi các hoạt động quản lý.
Nói cách khác, các hoạt động quản lý khác nhau cần có các thủ tục khác nhau để tiến hành. Tương ứng với ba lĩnh vực hoạt động của nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp là ba nhóm thủ tục: thủ tục lập pháp, thủ tục hành pháp, thủ tục tư pháp. Thủ tục Lập pháp là thủ tục làm Hiến pháp và làm luật. Thủ tục tố tụng Tư pháp là thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự, định tội, được thực hiện bởi các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử… Còn thủ tục hành chính là thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính nhà nước.
Thủ tục hành chính khác với thủ tục lập pháp, tố tụng trong tư pháp và các thủ tục khác bởi các đặc điểm sau đây: Thủ tục hành chính được luật hành chính quy định chặt chẽ; thủ tục hành chính được thực hiện chủ yếu ngoài trình tự Tòa án; các quy phạm thủ tục hành chính không chỉ quy định thủ tục thực hiện quy phạm vật chất của ngành luật hành chính, mà cả quy phạm vật chất của hầu hết các ngành luật khác. Cũng theo Điều 8 của Nghị định 63/2010/NĐ-CP, ngày 8/6/2010 của Chính phủ việc quy định một thủ tục hành chính cụ thể chỉ hoàn thành khi đáp ứng đầy đủ các bộ phận tạo thành cơ bản sau đây: - Tên thủ tục hành chính; - Trình tự thực hiện; - Cách thức thực hiện; - Hồ sơ; - Thời hạn giải quyết; - Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; - Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính; - Kết quả thực hiện thủ tục hành chính; Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, 7 điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận tạo thành của thủ tục hành chính. Những quy định của Nghị định này về thủ tục hành chính có những yếu tố hợp lý, không hợp lý. Sự hợp lý được thể hiện ở quy định “ thủ tục hành chính là trình tự, cách thức”, nhưng không hợp lý ở chỗ coi thủ tục hành chính là “ hồ sơ”, “yêu cầu, điều kiện”, “hồ sơ”, thực chất chỉ là những cơ sở, căn cứ để giải quyết các vụ việc do đó không thể đưa vào định nghĩa thủ tục hành chính, mặc dù để giải quyết bất kỳ vụ việc nào theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức cũng đều đòi hỏi phải có hồ sơ vụ việc.
Thủ tục hành chính là một loại quy phạm pháp luật quy định về trình tự về thời gian, về không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy Nhà nước, là cách thức giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân. Trong khoa học Luật hành chính Việt Nam có nhiều quan niệm khác nhau về thủ tục hành chính, có quan niệm cho rằng "Thủ tục hành chính là trình tự và cách thức thực hiện hoạt động hành chính nói chung, hoặc là trình tự và cách thức thực hiện những hoạt động cụ thể trong các ngành và lĩnh vực hoạt động hành chính và do luật hành chính quy định"; người khác quan niệm thủ tục hành chính là trình tự và cách thức thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước; theo Nghị định 63/2010/NĐ-CP, ngày 8/6/2010 của Chính phủ về Kiểm soát thủ tục hành chính có định nghĩa "Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức". Quan niệm này đã khái quát được cả quy trình, cách thức của hoạt động hành chính nhà nước, cũng như sự điều chỉnh của pháp luật đối với trình tự và cách thức của hoạt động đó. Từ những vấn đề nêu trên có thể định nghĩa: Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện các quản lý hành chính nhà nước của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan đó, nhưng chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước.
Phân loại thủ tục hành chính Dưới đây là một số đặc trưng thông dụng có thể giúp cho việc phân loại các 8 thủ tục hành chính khi nghiên cứu chúng trong thực tế. Theo đối tượng quản lý của Nhà nước Các thủ tục hành chính được xây dựng cho từng lĩnh vực quản lý nhà nước và được phân loại theo cơ cấu, chức năng của bộ máy quản lý nhà nước hiện hành. Ví dụ: - Thủ tục cấp giấy phép xây dựng - Thủ tục đăng ký kinh doanh - Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - Thủ tục hộ tịch, hộ khẩu… Theo công việc của cơ quan Nhà nước Cách phân loại này, đơn giản có khả năng áp dụng rộng rãi. Theo cách phân loại này, thủ tục hành chính bao gồm - Thủ tục thông qua và ban hành văn bản: Thủ tục thông qua và ban hành quyết định hành chính, thủ tục thông qua và ban hành văn bản hành chính.
Thủ tục tuyển dụng cán bộ, công chức: thủ tục tuyển dụng cán bộ quản lý, tuyển dụng cán bộ kỹ thuật, tuyển dụng nhân viên. - Thủ tục khen thưởng cán bộ, công chức. Đặc điểm của các thủ tục trên là chúng gắn liền với hoạt động cụ thể của các cơ quan, phản ánh tính đặc thù trong quá trình vận dụng các thủ tục đó vào thực tiễn. Cách phân loại này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp cho các chủ thể thủ tục hành chính định hướng dễ dàng và chính xác hơn trong giải quyết các công việc có liên quan.
Theo chức năng chuyên môn Cách phân loại này thường được áp dụng trong các cơ quan có chức năng quản lý chuyên môn. Các cơ quan chuyên môn thực hiện các hoạt động của mình phải đảm bảo những thủ tục cần thiết theo yêu cầu chung của Nhà nước. Theo cách phân loại này, có các loại thủ tục hành chính như sau: - Thủ tục cung cấp các dịch vụ thông tin - Thủ tục kiểm tra mức độ an toàn trong lao động 9 - Thủ tục hải quan… Theo quan hệ công tác Cách phân loại này còn thường được gọi là phân loại theo tính chất quan hệ thủ tục hành chính. Theo cách phân loại này, có ba nhóm thủ tục sau đây: - Thủ tục hành chính nội bộ: Thủ tục hành chính nội bộ là thủ tục thực hiện các công việc nội bộ trong cơ quan nhà nước, trong hệ thống cơ quan nhà nước và trong bộ máy nhà nước nói chung.
Chúng bao gồm các thủ tục quan hệ lãnh đạo, kiểm tra của các cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới; quan hệ hợp tác, phối hợp giữa các cơ quan cùng cấp, ngang cấp, ngang quyền; quan hệ công tác giữa chính quyền cấp tỉnh với các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan chuyên môn của UBND cấp trên. Thủ tục hành chính nội bộ thường là thủ tục ban hành những quyết định chủ đạo, thủ tục ban hành quyết định quy phạm, thủ tục ban hành các quyết đinh cá biệt nội bộ, thủ tục khen thưởng kỷ luật, thủ tục lập các tổ chức và thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ nhà nước.