CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CƠ CHẾ “MỘT CỬA” 1. Khái quát chung về thủ tục hành chính 1. Khái niệm, đặc điểm về thủ tục hành chính 1. Khái niệm Để giải quyết một công việc nhất định đều cần có những thủ tục phù hợp.
Theo nghĩa thông thường, thủ tục có nghĩa là phương cách giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể thống nhất. Cũng có thể hiểu thủ tục là những quy tắc, chế độ, phép tắc hay quy định chung phải tuân theo khi làm việc công. Hoạt động quản lý Nhà nước được thể hiện qua các chính sách quản lý Nhà nước đó là những quy phạm pháp lý để hướng dẫn hoạt động quản lý Nhà nước, quản lý hoạt động của con người. Để cụ thể hóa những quy phạm pháp lý này, thủ tục là loại kế hoạch quy định trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết công việc.
Hiện nay, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ, thủ tục hành chính được quy định theo hướng giải thích từ ngữ: “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”1. Thủ tục hành chính do pháp luật quy định, chính vì thế nó có tính bắt buộc thi hành đối với các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành thủ tục hành chính và mọi công công dân, tổ chức tham gia vào thủ tục hành chính. Toàn bộ các quy phạm pháp luật về thủ tục hành chính tạo thành chế định quan trọng của luật hành chính nó cho biết các quy phạm nội dung của luật hành chính được thực hiện bằng cách nào. Quy phạm thủ tục hành chính còn có tên gọi là quy phạm hình thức.
Thiếu bộ phận này, luật pháp sẽ không có đủ điều kiện để đi vào đời sống. Vì vậy, trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, sau các quy định về nội dung là những quy phạm thủ tục để thực hiện nội dung đó. 1 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính. 6 Chỉ có các hoạt động quản lý hành chính được quy phạm thủ tục hành chính điều chỉnh mới tạo thành thủ tục hành chính, còn các hoạt động tổ chức – tác nghiệp nào đó trong hoạt động quản lý hành chính không mang nội dung quyền lực nhà nước, không được các quy phạm thủ tục hành chính điều chỉnh thì không được thực hiện theo thủ tục hành chính 1.
Đặc điểm của thủ tục hành chính2 Từ việc xây dựng và vận dụng các thủ tục hành chính có thể thấy một số đặc điểm chung như sau: Trước hết, thủ tục hành chính được thực hiện bởi những cơ quan và công chức nhà nước. Quản lý hành chính nhà nước được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau có thẩm quyền quản lý nhiều lĩnh vực khác nhau, nhiều cấp khác nhau, vì vậy khác với thủ tục lập pháp chỉ do Quốc hội tiến hành; khác với thủ tục tố tụng chỉ do các cơ quan như Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan điều tra thực hiện , thủ tục hành chính được tiến hành bởi nhiều cơ quan và công chức nhà nước. Thứ hai, đối tượng công việc cần thực hiện rất phức tạp. Thủ tục hành chính là thủ tục giải quyết các công việc nội bộ nhà nước và giải quyết các công việc liên quan đến quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của công dân.
Do vậy, đối tượng công việc cần thực hiện rất phức tạp. Có việc cần thực hiên nhanh, gọn qua ít khâu, ít cấp nhưng nhiều trường hợp đòi hỏi phải thận trọng, qua nhiều khâu và yêu cầu các loại giấy tờ xác minh tỉ mỉ. Thứ ba, thủ tục hành chính phải kết hợp những khuôn mẫu ổn định tương đối với các biện pháp thích hợp cho từng loại công việc và đối tượng để đảm bảo kịp thời giải quyết công việc theo từng trường hợp cụ thể. Quản lý hành chính nhà nước chủ yếu là hoạt động cho phép, ra mệnh lệnh có tính chất đơn phương và thi hành ngay nhằm giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả mọi công việc biến động hàng ngày của xã hội.
Do đó thủ tục hành chính phải kết hợp những khuôn mẫu ổn định tương đối với các biện pháp thích hợp khi giải quyết từng trường hợp cụ thể. Thứ tư, thủ tục hành chính rất đa dạng và phức tạp. 2 Nguyễn Văn Thâm; Thủ tục hành chính: Lý luận và thực tiễn; Chính trị Quốc gia. 7 Xuất phát từ đặc điểm quản lý hành chính nhà nước là diễn ra trên nhiều lĩnh vực, đối tượng quản lý đa dạng, nội dung công việc phong phú.
Vì vậy mà thủ tục hành chính cũng rất đa dạng và phong phú. Thứ năm, hoạt động hành chính Nhà nước chủ yếu thực hiện tại văn phòng của công sở Nhà nước và phương tiện truyền đạt quyết định cũng như các thông tin quản lý phần lớn là văn bản (công văn, giấy tờ). Vì thế nó gắn chặt với công tác văn thư, với việc tổ chức ban hành, sử dụng và quản lý văn bản trong các cơ quan Nhà nước. Nguyên tắc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính 1.
Nguyên tắc xây dựng thủ tục hành chính Nguyên tắc phù hợp với Pháp chế Xã hội chủ nghĩa, phù hợp với luật pháp hiện hành của Nhà nước ta, có tính hệ thống nhằm đạt được một công cụ quản lý hữu hiệu cho bộ máy Nhà nước. Nguyên tắc phù hợp với thực tế, phù hợp với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nguyên tắc thủ tục hành chính phải đơn giản, dễ hiểu, công khai và thuận lợi cho việc thực hiện. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống.
Nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính Thủ tục hành chính được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật và các văn bản pháp quy. Các nguyên tắc đó bao gồm: Thứ nhất, chỉ có cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền do pháp luật quy định mới được thực hiện thủ tục hành chính. Nguyên tắc này đảm bảo tính pháp chế trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Theo nguyên tắc này thì chỉ những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành các thủ tục hành chính nhất định và phải thực hiện đúng trình tự với những phương tiện, biện pháp và hình thức được pháp luật cho phép.
Thứ hai, khi thực hiện thủ tục hành chính phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, công minh. Tính chính xác, khách quan khi thực hiện thủ tục hành chính thể hiện ở chỗ: Cơ quan tiến hành thủ tục phải có đủ tài liệu, chứng cứ khi xem xét giải quyết công việc, đảm bảo thực hiện đúng các yêu cầu của các thủ tục nhằm giải quyết một cách đúng 8 đắn nhất các công việc của Nhà nước, các kiến nghị, yêu cầu hợp pháp của công dân, tổ chức. Khi thực hiện thủ tục hành chính phải đảm bảo tính khách quan, không vì vụ lợi mà gây thiệt hại cho Nhà nước, tập thể và cá nhân. Để thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan Nhà nước phải có quyền được yêu cầu cung cấp thông tin và các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ cung cấp một cách chính xác, đầy đủ các thông tin khi được yêu cầu.
Ngoài ra, các cơ quan Nhà nước phải có một chế độ công vụ rõ ràng và khoa học, có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, rành mạch. Các cơ quan phải có đủ cán bộ có kiến thức chuyên môn vững chắc, nắm vững không những thủ tục giải quyết công việc của mình mà còn những thủ tục giải quyết các công việc có liên quan. Ngoài ra, cán bộ cần có phẩm chất đạo đức tốt, có trách nhiệm với công việc, tận tụy phục vụ nhân dân. Chính vì vậy, các cơ quan phải có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, giáo dục đạo đức chính trị tư tưởng, có chế độ đãi ngộ hợp lý.
Thứ ba, thủ tục hành chính phải rõ ràng và được thực hiện công khai. Thủ tục hành chính phải rõ ràng là một nguyên tắc quan trọng vì sự thiếu rõ ràng của hệ thống thủ tục hành chính trong việc giải quyết các nhu cầu, đề nghị của công dân, tổ chức gây nhiều khó khăn cho công dân, tổ chức khi đến cơ quan quản lý Nhà nước để xin giải quyết một vấn đề nào đó, làm nảy sinh tiêu cực trong thực hiện thủ tục hành chính. Bởi vì người dân không biết mình phải thực hiện những quy định gì ? Các quy định đó được giải quyết ở đâu ? Để thủ tục hành chính rõ ràng đòi hỏi thủ tục hành chính phải được xây dựng một cách khoa học, hợp lý, dễ hiểu và dễ thực hiện. Công khai hóa quá trình, thủ tục hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính trong việc giải quyết các yêu cầu, đề nghị của công dân, các tổ chức là điều kiện góp phần tăng hiệu quả của quá trình giải quyết các yêu cầu của công dân, các tổ chức.
Công dân, tổ chức biết rõ được họ cần phải làm gì, cần chuẩn bị những vấn đề gì, loại giấy tờ gì trước khi đến cơ quan yêu cầu giải quyết công việc. Mặt khác, người thi hành công vụ sẽ không có điều kiện để lợi dụng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân. Công khai còn là cơ sở để kiểm tra quá trình thực hiện thủ tục, do đó nó là căn cứ để đánh giá trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ với dân, nâng cao trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức thực hiện thủ tục hành chính. Thứ tư, các bên tham gia thủ tục hành chính bình đẳng trước pháp luật.
9 Giữa chủ thể tham gia và chủ thể thực hiện thủ tục hành chính bình đẳng với nhau trước pháp luật. Cụ thể là: Đối với chủ thể tham gia, tức là cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục do pháp luật quy định, phải đảm bảo có những loại giấy tờ cần thiết có giá trị pháp lý mà pháp luật quy định. Đối với chủ thể thực hiện thủ tục hành chính (Cơ quan hành chính Nhà nước, cán bộ có thẩm quyền) phải giải quyết yêu cầu, đòi hỏi của công dân, tổ chức khi đề nghị của họ có đủ điều kiện luật định.