MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài Dù ở thời đại nào, nguồn nhân lực cũng luôn là yếu tố quan trọng nhất quyết định sức mạnh của một quốc gia. Thực tế cho thấy, sự phát triển kinh tế – xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện nhƣng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào con ngƣời. Trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là giải pháp then chốt nhằm đáp ứng những nhu cầu phát triển mới. Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan quản lý nhà nƣớc về công tác chống buôn lậu, gian lận thƣơng mại, hàng gian hàng giả, sở hữu trí tuệ… trên địa bàn, giúp tăng cƣờng kỷ cƣơng trong lĩnh vực thƣơng mại.
Trong cơ chế thị trƣờng hiện nay, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào thị trƣờng thế giới các cơ quan quản lý nhà nƣớc cần phải phát huy hiệu quả nguồn nhân lực, tạo động lực làm việc để có thể đạt đƣợc mục tiêu, kế hoạch đề ra. Tại kỳ họp Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội khóa XIII đã ban hành Pháp lệnh Quản lý thị trƣờng số 11/2016/UBTVQH13 ngày 08/3/2016 thì lực lƣợng quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh sẽ trực thuộc Cục quản lý thị trƣờng. Pháp lệnh này quy định vị trí, chức năng, tổ chức; hoạt động kiểm tra, thanh tra chuyên ngành của lực lƣợng Quản lý thị trƣờng; cơ chế phối hợp và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; bảo đảm hoạt động, chế độ, chính sách đối với lực lƣợng Quản lý thị trƣờng. Một trong những mục tiêu quan trọng là nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, điều chỉnh mô hình tổ chức, hệ thống cơ chế về quản trị điều hành phù hợp với cơ chế thị trƣờng và chủ động trong công tác.
Tạo sự công bằng tƣơng đối giữa cống hiến và hƣởng thụ, giữa quyền hạn và trách nhiệm. Chi cục quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh có 670 cán bộ, công chức nhƣng theo báo cáo tổng kết thì năm 2013 có 8% công chức không hoàn thành nhiệm vụ, năm 2014 có 11% công chức không hoàn thành nhiệm vụ, năm 2015 có 13% công chức không hoàn thành nhiệm vụ. Các công chức không hoàn thành 2 nhiệm vụ là do không hoàn thành công việc. Ngƣời xƣa có câu “Bạn có thể đƣa con ngựa ra tới tận bờ sông nhƣng không thể bắt nó uống nƣớc, ngựa chỉ uống nƣớc khi nó khát và con ngƣời cũng vậy”.
Con ngƣời chỉ làm việc khi ngƣời ta muốn hoặc có động lực bởi chính bản thân hay từ các nhân tố bên ngoài để làm việc. Ông Giản Tử Trung, Chủ tịch hội đồng quản trị Trƣờng đào tạo Giám đốc và Doanh nhân PACE có câu nói khá thú vị về tạo động lực “Đừng cho ngƣời ta con cá, cũng đừng cho họ cần câu, hãy cho họ động lực muốn đƣợc câu cá”. Vì vậy, làm thế nào để công chức có động lực làm việc là câu hỏi thách thức đối với nhà lãnh đạo cũng nhƣ nhà quản trị nhân sự và để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực thì ngoài việc tổ chức, quản lý khoa học, cơ quan quản lý nhà nƣớc còn phải thực hiện tốt chính sách tạo động lực cho công chức. Làm thế nào để phát huy tối đa nhiệt tình, năng lực của công chức là yêu cầu cấp thiết đối với công tác quản lý nhân sự.
Thực tiễn đã chứng minh nhà quản lý nào biết quản lý và khai thác nguồn nhân lực hiệu quả thì sẽ có đƣợc động lực phát triển. Ta biết rằng thành công và phát triển trong mọi lĩnh vực là nhờ vào việc coi trọng yếu tố con ngƣời và biết sử dụng lao động. Một cuộc khảo sát lớn điều tra về nhận thức của nhân viên và quản lý về động lực làm việc thì kết quả chỉ ra rằng vấn đề lớn nhất của quản lý là khả năng cảm nhận chính xác những yếu tố thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên. Trong thời kỳ hiện nay, Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh đứng trƣớc nhiều áp lực quản lý nhà nƣớc về cơ chế hoạt động chuyên ngành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để thật hiệu quả hiệu quả.
Vậy làm thế nào để phát huy năng lực của công chức là một trăn trở lớn của các nhà quản trị nhân sự và lãnh đạo Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh. Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực con ngƣời là một vấn đề luôn đặt ra đối với Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh. Công chức nếu đƣợc làm việc trong một môi trƣờng tràn ngập sự khích lệ sẽ nảy sinh nhiều ý tƣởng sáng kiến hơn. Họ sẽ phát huy đƣợc sự năng động của mình để thích nghi với những thay đổi tại công sở và qua đó giúp hoạt động chuyên môn của Chi cục trở nên năng động hơn, có khả năng cạnh tranh tốt hơn.
Ngƣợc lại, nếu 3 nhà quản lý cứ để tình trạng suy giảm động lực kéo dài mà không tìm hiểu nguyên nhân, vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng hơn, nghĩa là năng suất làm việc sẽ tiếp tục xuống với tốc độ ngày càng nhanh, và đến một lúc nào đó Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh sẽ phải đối mặt với những hậu quả từ quyết định sai lầm của công chức. Để có thể đạt đƣợc các chỉ tiêu của kế hoạch, cũng nhƣ mục tiêu đề ra, Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh cần có sự kết hợp và sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó không thể không chú ý đến nguồn lực con ngƣời. Vấn đề công chức quan tâm giờ đây không chỉ đơn thuần là những nhu cầu vật chất mà còn bao gồm cả những nhu cầu về tinh thần. Vì vậy Chi cục cần phải nhận biết đƣợc nhu cầu đang tồn tại trong công chức để có những giải pháp đáp ứng nhu cầu đó.
Trên thực tế, công tác tạo động lực cho công chức tại Chi cục chƣa khuyến khích tính tích cực và nhiệt huyết gắn bó vào công việc của công chức. Xuất phát từ thực tế nhƣ vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Các yếu tố tạo động lực làm việc cho công chức tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn đóng góp một phần cho sự phát triển hiệu quả bền vững và hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của Chi cục Quản lý thị trrƣờng thành phố Hồ Chí Minh.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Phân tích, đánh giá sự ảnh hƣởng của các yếu tố tác động đến động lực làm việc cho công chức tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh và đƣa ra các hàm ý quản trị để gia tăng động lực làm việc cho công chức.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể - Thứ nhất, xác định yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc cho công chức tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh. - Thứ hai, đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến động lực làm việc cho công chức tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh. - Thứ ba, đề xuất những hàm ý quản trị nhằm giúp nhà quản trị cải thiện động lực làm việc cho công chức tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh.3 Câu hỏi nghiên cứu - Các yếu tố nào tác động đến động lực làm việc cho công chức tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh? - Mức độ tác động của các yếu tố động lực làm việc cho công chức nhƣ thế nào tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh? - Những hàm ý quản trị nào nhằm giúp nhà quản trị cải thiện động lực làm việc cho công chức tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh? 1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tƣợng nhiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, thực tiễn có liên quan đến những yếu tố tác động đến động lực làm việc cho công chức tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tƣợng khảo sát: là công chức đang công tác tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh đại diện các phòng, đội khác nhau.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: nghiên cứu đƣợc giới hạn trong phạm vi tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian: - Dữ liệu thứ cấp: những số liệu báo cáo của Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2013 đến 2015. - Dữ liệu sơ cấp: tiến hành điều tra, khảo sát và nhận kết quả từ tháng 9/2016 đến 10/2016.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu mang lại một số ý nghĩa thực tiễn giúp cho các nhà quản trị Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh có một cách nhìn tổng quát về các yếu tố tạo động lực làm việc, hiểu đƣợc những yếu tố nào ảnh hƣởng đến động lực làm việc cho công chức. Từ đó đƣa ra các giải pháp thúc đẩy động lực làm việc cho công chức tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh và có chính sách động viên kịp thời, tạo động lực cho công chức làm việc một cách hăng hái, nhiệt tình nhất.
5 Đề ra quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch của Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh. Cung cấp số liệu thực tế dùng làm tài liệu, phƣơng châm và giá trị cốt lõi để triển khai thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch của Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh, nhất là dành cho các cấp lãnh đạo, quản lý không chỉ tại Chi cục Quản lý thị trƣờng thành phố Hồ Chí Minh mà còn cho các Chi cục khác. Nghiên cứu này cũng có thể là tài liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu sâu các yếu tố tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động hoặc các lãnh đạo doanh nghiệp khi cần đầu tƣ phát triển doanh nghiệp.6 Cấu trúc của luận văn Luận văn đƣợc chia làm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Giới thiệu về nghiên cứu. Chƣơng này sẽ giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài.
Chƣơng 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Chƣơng này, tác giả trình bày các khái niệm cơ bản liên quan đến động lực làm việc cho công chức, các lý thuyết và nghiên cứu liên quan.