Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở tổng quan nghiên cứu Chương 3: Xây dựng mô hình và các giai đoạn nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Giải pháp cải thiện động lực làm việc của nhân viên 8 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ TỎNG QUAN NGHIÊN cứu 2.1 Cơ sở lý thuyết về các khái niệm nghiên cứu 2.1 Hiệu quả lao động Hiệu quả lao động (employee performance) của nhân viên là một khái niệm trừu tượng, cho đến nay, cũng có rất ít nghiên cứu đưa ra được một định nghĩa hoàn chỉnh về nó, mặc dù thuật ngữ này đã được nhắc tới rất nhiều trong các nghiên cứu quản trị, kế toán quản trị, hay quản trị nguồn nhân lực (Mai Đức Anh, 2010). Theo Elias và Scarbrough (2004), hiệu quả lao động của nhân viên được xác định như một tiêu chí đánh giá khả năng và kết quả công việc của nhân viên trong việc xây dựng các hệ thống lưong, thưởng, kiểm tra và kiểm soát chất lượng lao động trong các doanh nghiệp. Chẳng hạn, khi muốn xem xét hiệu quả làm việc của nhân viên, doanh nghiệp sử dụng thẻ cân bằng điểm trong quản trị nhân sự (HR Scorecard). Mặc dù hiệu quả lao động là một yếu tố vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển của tất cả các doanh nghiệp, nhung không phải doanh nghiệp nào cũng có thể xác định được các yếu tố quyết định hiệu quả lao động của nhân viên (Mai Đức Anh.
Một số nhà nghiên cứu như Fericelli & Sire (1996). Bourguignon (1997), và Gilbert & Charpentier (2004) đưa ra quan điếm về hiệu quả (performance) dựa trên ba ý nghĩa sau: (1) hiệu quả là một thành công và nó phụ thuộc vào các yếu tố của tổ chức hay con người; (2) hiệu quả là kết quả của một hành động theo đó việc đánh giá hiệu quả là hoạt động hậu kiểm các kết quả đã đạt được; (3) hiệu quả là một hành động bời nó dẫn tới thành công nhờ vào quy trình quàn lý, thông tin về kết quả, quy trình xây dựng và kiểm tra các mục tiêu. Theo định nghĩa của Mai Đức Anh (2010), hiệu quả lao động của nhân viên là việc hoàn thành các nhiệm vụ được giao bởi tổ chức và giúp đạt được tất cả các mục tiêu của cá nhân và tổ chức. Trong đó, hai yếu tố được đề cập, hình thành nên hiệu quả lao động là hiệu quả công việc (job performance) và sự hài lòng về công việc (general satisfaction).
9 Thứ nhất, hiệu quả công việc (job performance) đòi hỏi nhân viên phải sử dụng kiến thức, trí tuệ, sức lực và khả năng của mình nhằm để đạt mục tiêu công việc, nó được đánh giá bởi mức độ hoàn thành công việc theo quy định và yêu cầu của tổ chức. Thứ hai, sự hài lòng về công việc (general satisfaction) được đánh giá thông qua cảm nhận của nhân viên về công việc, chẳng hạn như công việc làm họ tăng thêm kỷ năng nghề nghiêp. hoặc nhân viên cảm thấy hài lòng khi công việc mà họ đang làm đúng với năng lực của chính mình. Như vậy, hiệu quả lao động là hoạt động hậu kiểm các kết quả công việc của nhân viên dựa trên các tiêu chí hành vi và hiệu quà công việc của nhân viên.
Tóm lại, dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hiệu quả lao động, nhưng nhìn chung, hiệu quả lao động là kết quả của việc hoàn thành các mục tiêu công việc của cá nhân theo mục tiêu và yêu cầu của tổ chức. Thông qua các lý thuyết trước cho thấy, có hai cách để đo lường hiệu quả lao động: thứ nhất, hiệu quả lao động được đo lường mang tính khách quan bằng cách đánh giá dựa theo các tiêu chí cụ thể do tổ chức đề ra (KPI), thứ hai hiệu quả lao động được đo lường chủ quan thông qua càm nhận của nhân viên về việc thực hiện công việc được giao bởi tổ chức. Đối với đề tài nghiên cứu này, tác giả thực hiện đo lường hiệu quả lao động dựa trên sự tự đánh giá theo cảm nhận chủ quan của nhân viên về việc thực hiện công việc được giao bởi tổ chức.2 Động lực làm việc Động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhăm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó (Nguyễn Ngọc Quân, 2010). Hay động lực lao động là những nhân to bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực. say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động (Bùi Anh Tuấn. Theo Mai Đức Anh (2010), động lực làm việc liên quan tới các thái độ hành vi cùa cá nhân. Nó bắt nguồn từ các nhu cầu nội tại khác nhau của cá nhân đó và thúc đẩy cá nhân hành động để thỏa mãn các nhu cầu này.
Động lực làm việc cũng bao hàm năng lượng, mục tiêu, sự cố gắng, sự lựa chọn, sự kiên trì, và sức lực cần thiết của cá nhân trong quá trình lựa chọn, định hướng, tự thể hiện, thay đổi, kháng cự, và liên tục 10 của hành vi. Mặt khác, động lực không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm, kiến thức, kỳ năng và khả năng của cá nhân mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như đặc điểm công việc, quan hệ xã hội, môi trường kinh tế- xã hội, và đặc điểm của tổ chức nơi cá nhân đó làm việc. Theo đó, động lực được phân làm hai yếu tố căn bản: động lực nội tại (intrinsic motivation) và động lực bên ngoài (extrinsic motivation). Động lực nội tại chính là các nhu cầu hoàn thành, thực hiện thành công, và hài lòng đối với bản chất công việc.
Động lực thể hiện mong muốn làm tốt công việc của cá nhân nhằm thỏa mãn chính mình (Warr, Cook, và Wall, 1979). Cá nhân có động lực làm việc khi họ muốn tìm kiếm niềm vui, mối quan tâm, thỏa mãn trí tò mò, tự thể hiện, và muốn có thử thách trong công việc (Amabile, 1993). Deci (1976) cho rằng cá nhân muốn làm việc để hiểu được khả năng của mình và tự quyết trong công việc. Cá nhân đó làm việc tốt không vì mục tiêu để có được phần thưởng của doanh nghiệp mà vì phần thưởng cho chính mình.
Hay nói cách khác để có động lực nội tại ở nhân viên, tổ chức nên tạo các hoạt động thú vị, tăng cường trách nhiệm của nhân viên đối với công việc, để họ không cảm thấy chán với công việc. Mặt khác, nên có sự lưu chuyển nhân viên trong tổ chức để họ có cơ hội tiếp xúc với các khu vực làm việc khác nhau (Einhom và Gallegher. Mặt khác, thúc đẩy động lực nội tại của nhân viên bằng cách giao cho nhân viên những công việc có tính thử thách để họ có thể chứng minh được năng lực của mình và cho tổ chức thấy được vai trò đóng góp của họ đối với sự thành công của tổ chức (Stoner, 1989). Chỉ khi nhân viên thấy được sự quan tâm và đảnh giả cao của tổ chức thì sẽ nhanh chóng tiếp nhận công việc mới với sự nhiệt tình và tràn đầy năng lượng.
Bởi lẻ, bản chất của con người nói chung là hiếu kỳ, thích sự khám phá và học hỏi. Vì vậy, động lực nội tại là một yếu tố quan trọng, được xem xét trong việc phát triển nhận thức xã hội và phát triển kiến thức, kỹ năng người lao động (Ryan và Grolnick, 1986). khi nhân viên có thể phát huy các giá trị thuộc về cá nhân, chẳng hạn như năng lực thực tế gồm những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm mà họ đã đúc kết được trong suốt quá trình làm việc cho tổ chức thì động lực nội tại sẽ tăng lên. Trong khi đó, động lực bên ngoài được thúc đẩy bởi tất cả những yếu tố và nguồn từ bên ngoài nhằm kích thích hiệu quả làm việc của cá nhân (Sajeva, 2007; 11 Amabile, 1993).
Các yếu tố bên ngoài có thể là phần thưởng, khen thưởng, phản hồi công việc, thời hạn hoàn thành công việc, yêu cầu công việc, hoạt động giám sát, lương thưởng và thăng tiến. Động lực bên ngoài còn được gọi là phần thường hữu hình mà tổ chức cung ứng cho người lao động, nó có thể là vật chất hoặc sự quan sát, quan tâm bởi cấp trên và xã hội (Bellenger và cộng sự, 1984). Như vậy, các yếu tố động lực bên ngoài giúp thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của cá nhân như nhu cầu về ăn, ở, mặc, an toàn, xã hội (Maslow, 1954), hay nói cách khác đó là nhu cầu tồn tại và nhu cầu quan hệ (Alderfer, 1972). Cụ thế, theo Abraham Maslow nhu cầu của con người được chia thành năm cấp độ: Sinh lý-An toàn-Xã hội-Tôn trọng-Tự khẳng định Nhu cầu sinh lý (ăn, ở, mặc.) là nhu cầu cơ bản nhất của con người.
Khi nhu cầu sinh lý được được thõa mãn thì kế tiếp nhu cầu an toàn được đòi hỏi để đáp ứng. Khi hai nhu cầu này đã được thõa mãn thì nhu cầu xã hội sẽ xuất hiện, con người cố gắng để có được mối quan hệ tốt đẹp đối với người khác. Tiếp đến là nhu cầu được tôn trọng (cảm giác tự tin, có quyền lực, có uy tín.), con người cảm thấy có ích và có ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Đây là mong muốn của con người nhận được sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắc xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội.
Cuối cùng, vượt trên tất cả những nhu cầu đã đề cập là nhu cầu tự khẳng định. Con người mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn vọng và kính nể, đây cũng là nhu cầu để tăng đến mức tối đa tiềm năng của con người. Như vậy, thông qua nhu cầu Maslow có thể thấy được: muốn nhân viên hăng hái, có động lực làm tốt công việc thì trước hết tổ chức phải nhận biết nhu cầu của nhân viên đang ở cấp độ nào để đáp đúng nhu cầu đó nhằm cải thiện động lực thúc đẩy nhân viên làm việc tốt và có hiệu quả hơn. Giáo sư Clayton Alderfer đã tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của Maslow và đưa ra kết luận của mình.