CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC 1. Khái niệm động lực và tạo động lực 1. Khái niệm động lực Nguồn lực con người là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp hay tổ chức. Một tổ chức, doanh nghiệp muốn phát triển vững mạnh cần phải biết cách sử dụng triệt để, hiệu quả nguồn lực con người.
Một trong những điều quan trọng cần làm để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chính là tạo động lực làm việc cho nhân viên, người lao động. Năm 1994, Higgins đưa ra khái niệm “Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn”. Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (2007), “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức”. Hay theo PGS.TS Bùi Anh Tuấn (2011), “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động.” Như vậy, có thể nói động lực là sự tự nguyện, khát khao, sự cố gắng có định hướng nhằm đạt được mục tiêu của mỗi cá nhân. Nói cách khác, một người có động lực lao động sẽ nhận thức được là có một mục tiêu cụ thể phải đạt được và sẽ chỉ đạo nỗ lực của mình để đạt được mục tiêu đó. Một số đặc điểm của động lực Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và với môi trường làm việc, không có động lực chung chung, không gắn với công việc cụ thể nào. Trong một doanh nghiệp, mỗi cá nhân lại có một vai trò khác nhau, đảm nhiệm những công việc ở những vị trí khác nhau.
Chính vì vậy, không có động lực nào là chung cho tất cả nhân viên. Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân, nó có thể thay đổi thường xuyên và phụ thuộc vào yếu tố khách quan trong 3 công việc. Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực. Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn.
Tuy nhiên, động lực không luôn dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. Người lao động, nhân viên nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, nếu họ mất đi động lực làm việc hoặc suy giảm động lực thì sẽ dễ nảy sinh sự chán nản và có xu hướng ra khỏi doanh nghiệp. Khái niệm tạo động lực Tạo động lực làm việc cho nhân viên được hiểu là tổng hợp tất cả những chính sách, biện pháp, quy định của nhà quản lý đối với nhân viên nhằm thúc đẩy sự khao khát, tự nguyện của nhân hoàn thành công việc, cống hiến cho công ty.
Đây là một quá trình bao gồm các bước cơ bản như: Xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giá kết quả tạo động lực. Các biện pháp tạo động lực với mỗi đối tượng khác nhau cũng sẽ không giống nhau do nhu cầu và sự thỏa mãn của họ là khác nhau. Tạo động lực cho nhân viên chính là trách nhiệm và mục tiêu của người quản lý. Khi người nhân viên có động lực làm việc thì họ sẽ có thêm ý chí và nghị lực, tạo ra các cơ hội nâng cao năng suất lao động, làm tăng hiệu quả công việc, từ đó giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển vững mạnh.
Trong quá trình làm việc, thời gian đầu hầu hết nhân viên đều mang trong mình sự đam mê, nhiệt huyết và những khát khao có được những thành tích hay vị trí công việc cao hơn. Nhưng sau một thời gian dài nhân viên sẽ có thái độ chán nản, hiệu quả làm việc không như lúc đầu, vì thế nhà quản lý cần phải hiểu tâm lý của nhân viên, có những chính sách quản lý riêng để tạo động lực, tăng sự nhiệt huyết cho nhân viên, mang lại kết quả tốt nhất trong công việc. Vai trò của tạo động lực ● Đối với cá nhân nhân viên, người lao động 4 Con người luôn có những nhu cầu cần được thỏa mãn về cả hai mặt vật chất và tinh thần. Khi người nhân viên, người lao động cảm thấy những nhu cầu của họ được đáp ứng đầy đủ, họ sẽ có một tâm lý tốt thúc đẩy họ làm việc hăng say hơn.
Ngược lại, những người không có động lực làm việc thì khó có thể đạt được mục tiêu đã đề ra bởi vì khi đó họ chỉ hoàn thành công việc được giao ở mức tối thiểu mà không có sự cố gắng phấn đấu hay sáng tạo nào trong công việc. Họ coi công việc đang làm như một nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng lao động. Do đó, người quản lý cần phải tạo được động lực thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc của mỗi nhân viên. Người lao động, nhân viên chỉ hoạt động tích cực khi mà họ được thỏa mãn một cách tương đối những nhu cầu của bản thân.
Điều này thể hiện ở những lợi ích mà họ được hưởng khi làm việc trong tổ chức. Khi mà nhân viên cảm thấy lợi ích mà họ nhận được không tương xứng với những gì họ bỏ ra, cảm thấy không thỏa mãn được những nhu cầu của mình thì sẽ gây ra cảm giác chán nản làm việc, không tập trung cao. Lợi ích chính là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu nên lợi ích mà người lao động nhận được phải tương xứng với những gì họ cống hiến thì mới tạo ra động lực cho họ làm việc. Động lực lao động còn giúp cho người lao động có thể tự hoàn thiện mình.
Khi có được động lực để làm việc, người lao động sẽ có ý chí, nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện bản thân. ● Đối với tổ chức, doanh nghiệp Trong mỗi tổ chức, doanh nghiệp, người lao động, nhân viên có động lực sẽ luôn cố gắng hoàn thành tốt công việc được giao, luôn nỗ lực và đóng góp các ý tưởng để cải tiến kỹ thuật, thao tác làm việc để nâng cao năng suất lao động. Khi công việc được thực hiện hiệu quả hơn, doanh nghiệp cũng sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí đáng kể như: phi phí nguyên vật liệu, chi phí thời gian thực hiện công việc, chi phí tuyển dụng,. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa người nhân viên với lãnh đạo cũng sẽ được cải thiện nếu người lãnh đạo hiểu được nhu cầu của nhân viên và đưa ra những quyết định kịp thời để tạo động lực cho nhân viên.
Người nhân viên sẽ cảm thấy vui vẻ và 5 có động lực làm việc hơn khi được làm việc trong một môi trường an toàn và lành mạnh, được tuyên dương và nhận thưởng cho những đóng góp của họ với doanh nghiệp. Từ đó, họ sẽ quý trọng người lãnh đạo và có ý chí phấn đấu, đóng góp nhiều hơn vì lợi ích chung của tổ chức. ● Đối với xã hội Bên cạnh việc đóng góp những giá trị to lớn cho bản thân người lao động và các doanh nghiệp, tổ chức, việc tạo động lực cũng đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của xã hội. Khi động lực làm việc của nhân viên, người lao động được tăng cao và phát huy thì năng suất lao động của doanh nghiệp cũng tăng theo, từ đó nền kinh tế xã hội cũng sẽ tăng trưởng theo.
Đồng thời, động lực làm việc khiến mỗi cá nhân có thêm nghị lực và ý chí hoàn thiện bản thân, nỗ lực vươn tới những mục tiêu cao lớn hơn, trở thành những công dân văn minh và có ích cho xã hội. Có thể nói, việc tạo động lực cho người lao động không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển và thành công của một tổ chức mà còn là tiền đề để xã hội ngày một văn minh và toàn diện. Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực 1. Các nhân tố thuộc về nhân viên, người lao động 1.
Nhu cầu của nhân viên, người lao động Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả của việc thực hiện nhu cầu trở nên hấp dẫn. Con người ở mỗi khoảng thời gian, không gian sẽ có các nhu cầu khác nhau, trong đó nhu cầu nào chưa được thỏa mãn sẽ là động cơ mạnh nhất quyết định hành vi của họ và khi nhu cầu đó đã được thỏa mãn thì nó sẽ không còn là động cơ thúc đẩy con người làm việc nữa mà lúc này nhu cầu mới xuất hiện sẽ đóng vai trò này. Ví dụ, một nhân viên văn phòng bình thường có ước mơ trở thành trưởng phòng thì anh ta sẽ cố gắng làm việc chăm chỉ để đạt được ước mơ ấy. Nhưng một khi anh ta đã đạt được ước mơ và trở thành trưởng phòng thì nhu cầu này sẽ không còn có tác dụng thúc đẩy anh ta làm việc nữa.
Tuy nhiên khi đó, một nhu cầu mới như việc mong muốn được làm giám đốc sẽ được sinh ra, trở thành động lực để anh ta tiếp tục làm việc và đóng góp. 6 Để có thể nâng cao hiệu suất công việc, người quản lý cần nắm bắt và hiểu được nhu cầu của nhân viên để có thể đưa ra những chính sách, quyết định phù hợp, từ đó động viên, khuyến khích nhân viên nỗ lực làm việc. Giá trị cá nhân Giá trị cá nhân ở đây có thể hiểu là trình độ, hình ảnh của người đó trong tổ chức hay xã hội. Tuỳ theo quan điểm giá trị khác nhau của mỗi cá nhân mà họ sẽ có những hành vi khác nhau, khi người nhân viên ở những vị trí khác nhau trong tổ chức thì thang bậc giá trị cá nhân của họ cũng thay đổi dù nhiều hay ít.
Ví dụ khi ta xem xét những người nhiều ý chí, giàu tham vọng và có lòng tự trọng cao thì việc xây dựng cho mình một hình ảnh đẹp là rất quan trọng bởi vì họ luôn muốn khẳng định mình qua cách thực hiện và kết quả công việc.