chương 1 Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu thông qua lý do dẫn dắt để hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu tổng quát. Những nội dung này sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quát về nội dung, quá trình hình thành đề tài, để từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu sâu về các cở sở lý thuyết liên quan trong chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày tổng quan về khái niệm, các lý thuyết về động lực làm việc cho nhân viên. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu tại Cục Quản lý thị trường Kiên Giang.
Khái niệm công chức Theo luật Cán bộ, Công chức số: 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội: công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập). Khái niệm về động lực làm việc Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể (nói cách khác động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động). Động lực cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt. Chúng được chia thành ba loại yếu tố cơ bản: Loại 1: Những yếu tố thuộc về con người tức là những yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con người thúc đẩy con người làm việc như: lợi ích của con người, mục tiêu cá nhân, thái độ của cá nhân, khả năng và năng lực của cá nhân, thâm niên, kinh nghiệm công tác.
Loại 2: Các nhân tố thuộc về môi trường là những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến nhân viên như: văn hoá doanh nghiệp, chính sách nhân sự. Loại 3: Các yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc là yếu tố chính quyết định ảnh hưởng đến thù lao lao động và mức tiền lương của người nhân viên trong tổ chức như: tính ổn định và mức độ tự chủ của công việc, mức độ khác nhau về nhiệm vụ, trách nhiệm, sự phức tạp của công việc, sự hấp dẫn và thích thú trong công việc [Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007, trang 128)]. Những thành tố chính của động lực Thành tố chính trong định nghĩa động lực: cường độ, định hướng, sự bền bỉ. Cường độ mô tả là mức độ cố gắng của con người.
Đây là thành tố mà hầu hết mà chúng đều tập trung vào khi nói về động lực. Tuy nhiên, cường độ cao không chắc chắn sẽ dẫn đến kết quả công việc mong muốn nếu những nỗ lực đó không được khai thác theo định hướng mang lại lợi ích cho tổ chức. Bởi vậy, chúng ta cần cân nhắc chất lượn cũng hư cường độ nỗ lực.Định hướng là những nỗ lực hướng tới và phù hợp với mục tiêu của tổ chức là những nỗ lực cần phải có. Cuối cùng, nỗ lực cần phải xem xét trên phương diện bền bỉ.
Yếu tố này đánh giá thời gian một người có thể duy trì nỗ lực. Những cá nhân có động lực có thể đảm nhận công việc cho đến khi đạt được mục tiêu [Đào Duy Huân và Nguyễn Tiến Dũng, (2017, trang 115)]. Vai trò của động lực làm việc Theo Ifinedo (2003) cho thấy rằng: Một người lao động có động lực có thể dễ dàng thấy sự nhiệt tình, sự cống hiến và sự tập chung vào công việc của họ nhằm mục đích và mục tiêu chung của tổ chức. Do vậy, động lực có liên quan đến việc mong muốn đạt kết quả tốt với nhiệm vụ được giao.
Động lực làm việc cho công chức có liên quan đến sự thịnh vượng hay suy thoái của tổ chức (Muahammad và cộng sự, 2011). Nhân viên có động lực làm việc cao sẽ giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu hơn đối thủ cạnh tranh. Người lao động có động lực làm việc tốt sẽ khuyến khích hành vi có đạo đức tại tổ chức (Mohamed, 2012). Amabile (1996) đã công nhận đã công nhận tầm quan trọng của động lực nội tại đến hoạt động sáng tạo trong công việc.
Các nhà khoa học cũng chứng minh rằng người lao động có xu hướng sáng tạo hơn ở nơi làm việc khi có công việc có liên quan đến sự yêu thích của cá nhân hoặc khi công việc đó hấp dẫn hoặc mang lại cho họ sự hứng thú [Đào Duy Huân và Nguyễn Tiến Dũng, (2017, trang 114)]. Sự cần thiết phải tạo động lực trong làm việc - Duy trì sự gắn bó của cán bộ, công chức: Một lực lượng lao động gắn bó có nghĩa là mỗi nhân viên đều hiểu và cam kết với giá trị và mục tiêu của tổ chức, và là động lực thúc đẩy không chỉ giúp nhân viên làm việc tốt mà giúp họ vượt lên để đạt được mục tiêu. Một lực lượng lao động gắn bó không tự nhiên mà có. Đó là một quá trình hai chiều mà ở đó mỗi tổ chức cần làm việc chăm chỉ để để gắn kết đội ngũ nhân viên của mình và quan trọng, các nhân viên cũng tự quyết định cách thức họ sẽ gắn bó với tổ chức.
- Tầm quan trọng của duy trì sự gắn bó của cán bộ, công chức: 8 Sử dụng người tài mới có thể tăng cường hiệu quả và thế mạnh cạnh tranh của tổ chức, nói cách khác, người tài là phương tiện để tăng cường lợi thế cạnh tranh. Sự gắn bó của nhân viên đối với tổ chức sẽ giúp tiên lượng được kết quả lao động của nhân viên, thành công của tổ chức và hiệu quả tài chính. Đối với bất kỳ một tổ chức nào thì cả hai yếu tố, những nhân viên tài năng và sự gắn bó của họ với tổ chức đều giữ vai trò quan trọng. Chúng đều liên quan đến phương pháp "mềm" trong quản trị nguồn nhân lực, đồng thời thúc đẩy các lợi thế cạnh tranh và kích thích các đóng góp tích cực khác cho tổ chức.
Như vậy có thể rút ra công thức sau: "Tài năng + Sự gắn bó với tổ chức = Hiệu quả lao động và sự thành công" của tổ chức. Theo bài giảng của Trần Xuân Cầu thì tạo động lực đem lại lợi ích cho người lao động, cho doanh nghiệp, gián tiếp mang lại lợi ích cho xã hội: - Đối với người lao động: Làm tăng năng suất lao động cá nhân: Khi có động lực lao động thì người lao động sẽ thấy yêu thích công việc và làm việc hăng say, năng suất lao động được nâng cao rõ rệt. Năng suất tăng lên dẫn tới tiền lương cũng được nâng cao hơn trước và nâng cao thu nhập cho người lao động. Phát huy được tính sáng tạo: Tính sáng tạo thường được phát huy khi con người cảm thấy thoải mái, tự nguyện khi thực hiện một công việc.
Tăng sự gắn bó với công việc và công ty hiên tại: khi đã cảm thấy yêu thích và cảm nhận được sự thú vị trong công việc thì sẽ hình thành bên trong họ sự gắn bó với tổ chức hiện tại của mình. Thêm một lợi ích nữa đối với người lao động đó là khi công việc được tiến hành thuận lợi thì họ sẽ thấy được công sức mình bỏ ra là có ích và đạt được hiệu quả cao. Điều đó tạo cho họ cảm thấy có ý nghĩa trong công việc, cảm thấy mình quan trọng và có ích và từ đó không ngừng hoàn thiện bản thân mình hơn nữa. - Đối với tổ chức: Nguồn nhân lực trong tổ chức sẽ được sử dụng hiệu quả nhất, có thể khai thác tối ưu các khả năng của người lao động.
Hình thành nên tài sản quý giá của tổ chức đó là đội ngũ lao động giỏi, có tâm huyết, gắn bó với tổ chức đồng thời thu hút được nhiều người tài. 9 Tạo ra bầu không khí làm việc hăng say, thoải mái, góp phần xây dựng văn hoá doanh nghiệp, nâng cao uy tín, hình ảnh của tổ chức. - Đối với xã hội: Động lực lao động giúp các cá nhân có thể thực hiện được mục tiêu, mục đích của mình, đời sống tinh thần của mỗi người sẽ trở nên phong phú hơn, từ đó hình thành nên những giá trị mới cho xã hội. Các thành viên của xã hội được phát triển toàn diện và có cuộc sống hạnh phúc hơn khi các nhu cầu của họ được thoả mãn.
Động lực lao động gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh hơn dựa trên sự phát triển của các doanh nghiệp. Một số học thuyết về động lực 2. Những lý thuyết đầu tiên về động lực 2. Thuyết Nhu cầu thang bậc của Abraham Maslow Thuyết nhu cầu của Maslow (1943) nỗi tiếng nhất về động lực là lý thuyết thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow.
Abraham Maslow giả định rằng trong mỗi con người tồn tại sự phân cấp của 5 nhu cầu: - Nhu cầu tâm sinh lý: bao gồm sự cáu giận, khao khát, che chở và các nhu cầu cơ thể khác. - Nhu cầu an toàn: an toàn và được bảo vệ khỏi những tổn hại về tinh thần và thân thể. - Nhu cầu quan hệ xã hội: Cảm giác yêu mếm, sự phụ thuộc, sự chấp nhận và tình bạn. - Nhu cầu được tôn trọng: là các yếu tố bên trong như lòng tự trọng, tự do, thành tích và các yếu tô bên ngoài như địa vị, sự công nhận và sự quan tâm.
- Nhu cầu tự thể hiện: Có động lực để trở thành người mà chúng ta có thể trở thành, boa gồm sự trưởng thành, đạt được tiềm năng và hoàn thành nguyện ước của mình. Abraham Maslow đã chia năm loại nhu cầu thành các cấp bậc cao thấp. Cơ bản (tâm sinh lý) và an toàn là các nhu cầu bậc thấp và xã hội, được tôn trọng, tự hoàn thiện là các nhu cầu bậc cao. Sự khác nhau là các nhu cầu bậc cao được thỏa màn bên trong (bên trong con người) trong khi các nhu cầu bậc thấp dề dàng được thỏa mãn từ bên ngoài (bởi những thứ như lương bồng, họp đồng và chức vụ).