ĐẶT VẤN ĐỀ Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện được làm việc của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Đây chính là nhân tố quan trọng bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động [27]. Trong bất kì ngành nghề nào, chất lượng dịch vụ và hiệu quả làm việc đều đóng vai trò quan trọng giúp cơ quan, tổ chức phát triển.
Tuy nhiên, trong thực tế luôn tồn tại một bộ phận người lao động làm việc trong trạng thái thiếu năng lượng, dễ mệt mỏi, cáu gắt dẫn đến hiệu quả công việc thấp vì thiếu động lực làm việc. Ngược lại, những người làm việc hăng say, nhiệt huyết và đam mê với công việc sẽ mang lại kết quả tốt cho tổ chức. Thực trạng này đã cho thấy điểm mấu chốt của vấn đề nằm ở động lực làm việc của người lao động. Khi có động lực, nhân viên sẽ chủ động nâng cao kiến thức về các loại thuốc, tận tâm trong việc chia sẻ và cung cấp thông tin cho khách hàng, từ đó xây dựng được niềm tin và uy tín cho cơ sở bán thuốc.
Hiện nay đã có một số nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên y tế, trong đó bao gồm cả dược sĩ trong bệnh viện và nhân viên bán thuốc lẻ. Kết quả nghiên cứu của Zemichael Weldegebriel và cộng sự (2016) [49] đã ghi nhận 58,6% có động lực làm việc, 71% có động lực với yếu tố tận tâm với công việc, 52,8% có động lực với yếu tố cam kết với tổ chức và 58,3% có động lực với yếu tố nội tại. Tại Việt Nam, Nguyễn Ngọc Khanh và cộng sự (2023) nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên y tế đã cho thấy tỉ lệ nhân viên có động lực cao là 47,4%, tỉ lệ nhân viên có động lực thấp là 52,6%. Các yếu tố liên quan đến động lực làm việc: Nhóm tuổi, loại hình lao động, thâm niên công tác, nhóm hài lòng với điều kiện làm việc, nhóm hài lòng về điều kiện quan hệ cấp trên và đồng nghiệp, hài lòng chế độ quản 2 trị và chính sách [9].
Nghiên cứu của Danh Thái Lan và cộng sự (2023) lại cho thấy tỉ lệ nhân viên y tế tận tâm với công việc tương đối cao (86,3%) [10]. Tuy nhiên, những nghiên cứu riêng về động lực và các yếu tố liên quan đến động lực làm việc của nhân viên bán thuốc còn hạn chế. Hà Nội là nơi tập trung nhiều dịch vụ y tế, trong đó có dịch vụ bán lẻ thuốc ngày càng phát triển mạnh mẽ đa dạng về mô hình hoạt động, chủng loại, xuất xứ thuốc và chất lượng tư vấn, chăm sóc khách hàng. Hiện nay, hệ thống y dược trên địa bàn thành phố Hà Nội có 4.573 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; 9.523 cơ sở hành nghề dược ngoài công lập trong đó 1.892 cơ sở nhà thuốc, 3.131 cơ sở quầy thuốc.
Các cơ sở bán lẻ thuốc tập trung chủ yếu ở 12 quận nội thành Hà Nội [17]. Điều đó cho thấy thực trạng bán thuốc lẻ tại Hà Nội đang phản ánh một thị trường cạnh tranh. Mặt khác sự phát triển đô thị và ý thức về sức khỏe của người dân tại Hà Nội ngày càng tăng, đặt ra yêu cầu cao hơn không chỉ về chất lượng thuốc mà còn việc cung cấp thông tin, sự tận tâm với khách hàng của nhân viên bán thuốc. Vì vậy, mỗi nhân viên bán thuốc cần phải có động lực làm việc để chủ động nâng cao kiến thức và chăm sóc khách hàng tốt hơn.
Để biết được động lực làm việc của nhân viên bán thuốc tại thành phố Hà Nội như thế nào và các yếu tố liên quan đến động lực làm việc là gì chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng động lực làm việc và một số yếu tố liên quan của nhân viên bán thuốc tại thành phố Hà Nội năm 2024”, với các mục tiêu cụ thể sau: 1. Mô tả động lực làm việc của nhân viên bán thuốc tại một số nhà thuốc tư nhân thành phố Hà Nội năm 2024. Phân tích một số yếu tố liên quan đến động lực làm việc của đối tượng nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Khái niệm liên quan đến cơ sở bán lẻ thuốc Cơ sở bán lẻ thuốc: Là đơn vị cuối cùng của hệ thống lưu thông, phân phối trực tiếp thuốc đến tay người dùng. Theo Luật Dược 2016 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), các loại hình cơ sở bán lẻ thuốc bao gồm nhà thuốc, quầy thuốc, tủ thuốc trạm y tế xã và cơ sở chuyên bán lẻ dược liệu, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền [16]. Cơ sở bán lẻ đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc” (Good Pharmacy Practice – GPP): Là cơ sở đáp ứng các nguyên tắc, tiêu chuẩn quy định tại Thông tư 02/2018/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành ngày 22/01/2018 [1].
Chủ cơ sở bán lẻ thuốc: Là người trực tiếp quản lí, điều hành mọi hoạt động của cơ sở bán lẻ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của cơ sở, kể cả trong trường hợp ủy quyền [16]. Nhân viên bán thuốc: Là người phụ trách chuyên môn về dược và nhân viên làm việc tại cơ sở bán lẻ thuốc có bằng cấp chuyên môn được đào tạo về dược phù hợp với loại hình và phạm vi hoạt động của cơ sở [1]. Sử dụng thuốc an toàn hợp lí: Người bệnh cần nhận được thuốc phù hợp với yêu cầu lâm sàng, có liều lượng, thời gian sử dụng được điều chỉnh phù hợp với từng cá nhân và ít tốn kém nhất cho người bệnh và cộng đồng [43]. Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc: Là bộ nguyên tắc, tiêu chuẩn trong hành nghề tại cơ sở bán lẻ thuốc nhằm bảo đảm cung ứng, bán lẻ thuốc trực tiếp đến người sử dụng thuốc và khuyến khích việc sử dụng thuốc một cách an toàn và có hiệu quả cho người sử dụng thuốc.
Khái niệm về động lực, động lực làm việc và tạo động lực làm việc 4 * Định nghĩa động lực [15] Động lực (motivation): Là lực thúc đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa thỏa mãn. Là yếu tố giúp con người đi đến hành động hay lựa chọn. Là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay kết quả cụ thể. Là niềm hi vọng hay một sức mạnh khác giúp khởi đầu một hành động với nỗ lực tạo ra một kết quả cụ thể nào đó.
Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực là sự sẵn sàng sử dụng mọi nỗ lực cao để đạt mục tiêu của tổ chức, bị ảnh hưởng bởi khả năng thoả mãn nhu cầu cá nhân của nỗ lực đó. Như vậy có thể hiểu: Động lực là những yếu tố tạo ra lí do hành động cho con người và thúc đẩy con người hành động một cách tích cực, có năng suất, chất lượng, hiệu quả; có khả năng thích nghi và sáng tạo cao nhất trong tiềm năng của họ. * Khái niệm động lực làm việc [27] “Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.
“Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. “Động lực làm việc là sự sẵn lòng thể hiện những nỗ lực mức độ cao để hướng đến các mục tiêu của tổ chức”. Từ các khái niệm trên, hiểu chung nhất, động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức.
Động lực làm việc gắn với cá nhân, nằm bên trong cá nhân, do đó, chủ thể quản lí chỉ gia tăng được động lực làm việc 5 của họ khi tác động đúng tới các yếu tố nội tại của người lao động. Động lực làm việc không phải là hiệu quả công việc. Động lực làm việc chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố khác quyết định đến hiệu quả công việc. * Khái niệm tạo động lực làm việc [27] “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lí tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong lao động”.
“Tạo động lực làm việc được hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản lí áp dụng đối với các cá nhân trong tổ chức, nhằm tạo ra động lực làm việc cho người lao động”. Như vậy, tạo động lực làm việc là tất cả các biện pháp của nhà quản lí áp dụng đối với các cá nhân trong tổ chức nhằm thúc đẩy người lao động làm việc vì mục tiêu của tổ chức. Mục đích của tạo động lực cho người lao động là trách nhiệm và mục tiêu của các nhà quản lí. Điều quan trọng nhất là thông qua các biện pháp, chính sách có thể khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát huy tiềm năng của nguồn nhân lực trong tổ chức.
Một khi người lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng nâng cao năng suất và hiệu quả làm việc. Không những thế nó còn tạo ra sự gắn bó và thu hút nhân tài về với tổ chức. Trong ngành dược, dược sĩ có vai trò vô cùng quan trọng trong tất cả các lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất, lưu thông, dược lâm sàng…Tuy vậy, dược sĩ cũng là đối tượng thường xuyên phải đối mặt với những áp lực căng thẳng về thời gian làm việc kéo dài, quá tải về khối lượng công việc. Những áp lực này không những ảnh hưởng tới sức khỏe, hạn chế phát huy các năng lực chuyên môn của dược sĩ mà còn tác động đến chất lượng dịch vụ, gây mất niềm tin của khách hàng và dẫn tới giảm sút hiệu quả tài chính [32], [36].