Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý tự nhiên của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.
Tác giả đồng ý với quan điểm Philip Kotler (2009) khi cho rằng: “Nhu cầu cấp thiết của con người là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà họ cảm nhận được” [28]. Nhu cầu cấp thiết của con người rất đa dạng và phức tạp. Nó bao gồm cả những nhu cầu sinh lý cơ bản về ăn, mặc, sưởi ấm và an toàn tính mạng lẫn những nhu cầu xã hội như sự thân thiết gần gũi, uy tín và tình cảm cũng như các nhu cầu cá nhân về tri thức và tự thể hiện mình. Nhu cầu cấp thiết là những phần cấu thành nguyên thủy của bản tính con người, không phải do xã hội hay người làm marketing tạo ra.
[28] Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng, có thể chia nhu cầu thành 2 nhóm chính như sau: + Nhu cầu về vật chất: là những nhu cầu gắn liền với những mong muốn về vật chất, thoả mãn được những nhu cầu tối thiểu để tồn tại và phát triển của con người. Cùng với sự phát triển của xã hội các nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng. + Nhu cầu về tinh thần: là những nhu cầu gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý. Nhu cầu về tinh thần của con người cũng rất phong phú, nó đòi những điều kiện để con người tồn tại và phát triển về mặt trí lực nhằm tạo ra trạng thái tâm lý thoải mái.
9 Trên thực tế, cả hai yếu tố vật chất và tinh thần cùng lúc tồn tại trong bản thân mỗi người nó không phải chỉ có một yêu cầu vật chất hay tinh thần mà nó có nhiều đòi hỏi khác nhau. Tuy nhiên tại mỗi thời điểm con người sẽ ưu tiên thực hiện yêu cầu mà được coi là cấp thiết nhất. Động cơ Là những nguyên nhân tâm lý xác định hành động có định hướng của con người, xuất phát từ việc mong muốn thỏa mãn các nhu cầu của người lao động, nhưng chỉ những nhu cầu nào được nhận thức rõ và thúc đẩy con người hoạt động để thỏa mãn nhu cầu đó thì mới trở thành động cơ của hoạt động. Động cơ được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thoả mãn được các nhu cầu cá nhân.
Động cơ chi phối thúc đẩy các cá nhân suy nghĩ và hành động. Động cơ sẽ thay đổi khi nhu cầu thay đổi cho nên những người khác nhau thì có những động cơ khác nhau [5]. Lợi ích Lợi ích được hiểu là kết quả mà con người nhận được qua các hoạt động của bản thân, cộng đồng, tập thể và xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân. Lợi ích có vai trò to lớn trong quản lý, nó tạo động lực mạnh mẽ cho các hoạt động nhất định của con người, nó buộc con người phải động não, cân nhắc, tìm phương thức thực hiện có hiệu quả nhất các mục tiêu thỏa mãn những nhu cầu của mình.
Tương tự như các dạng nhu cầu, lợi ích cũng gồm hai dạng là lợi ích vật chất là lợi ích tinh thần. Lợi ích tạo ra động lực lao động. Ngày nay, lợi ích không chỉ dừng lại là những gì mà tổ chức mang lại cho NLĐ mà còn do các yếu tố khác như các yếu tố bên ngoài (đánh giá của xã hội, đánh giá của các đối tác, sự đánh giá và sự kỳ vọng của người thân, bạn bè.) và các yếu tố thuộc về bản thân NLĐ (lý tưởng, hoài bão, các kế hoạch của cá nhân trong tương lai. Giữa lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nếu không có nhu cầu thì không thể thoả mãn nhu cầu và 10 lợi ích cũng không xuất hiện. Khi nhu cầu xuất hiện con người sẽ tìm cách để thoả mãn nhu cầu, kết quả của sự thoả mãn nhu cầu là lợi ích đạt được. Khi sự thoả mãn nhu cầu càng lớn, khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu càng được rút ngắn thì lợi ích càng lớn. Lợi ích đạt được càng cao thì động lực thôi thúc càng mạnh.
Khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu chưa được rút ngắn thì nó còn thúc đẩy con người hành động để rút ngắn khoảng cách đó. Đó chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất. Động lực lao động Động lực có vai trò rất quan trọng để các tổ chức hoạt động; không có động lực nhân viên sẽ không nỗ lực hết mình và hiệu suất của tổ chức sẽ kém hiệu quả. Trong tổ chức, người quản lý và người lao động đều phải biết đến các yếu tố làm nền tảng để đạt được các mục tiêu kinh doanh, đó là: tăng hiệu quả kinh doanh, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng chất lượng sản phẩm,.
Như vậy có thể thấy động lực không chỉ được sử dụng để mô tả hành vi của con người, mà nó còn được sử dụng để giải thích nguyên nhân hành động của con người. Trong suốt những năm qua, động lực đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Cụ thể như: Locke, E. Denibutun (2012) cũng định nghĩa “Động lực là một trạng thái bên trong khiến mọi người có hành vi theo một cách cụ thể để hoàn thành các mục tiêu và mục đích cụ thể”.
Ông nói thêm rằng động lực không giống như sự hài lòng. Sự hài lòng là định hướng trong quá khứ, trong khi động lực là định hướng ở tương lai. Động lực cũng có thể được định nghĩa là quá trình bên trong dẫn đến hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu. Quá trình con người trải 11 qua để thỏa mãn nhu cầu của họ là nhu cầu - động lực - hành vi - sự hài lòng hoặc không hài lòng [20].
Các khái niệm trên tuy khác nhau nhưng đều thể hiện bản chất của động lực, bao gồm: - Động lực lao động luôn liên quan đến một công việc, tổ chức, môi trường làm việc cụ thể, không có động cơ chung chung nào mà không liên quan đến một công việc cụ thể. - Mọi người có động lực khi họ mong đợi quá trình làm việc có khả năng dẫn đến việc đạt được các mục tiêu hoặc phần thưởng có giá trị đáp ứng nhu cầu cụ thể của họ. Adams (1963) nhận thấy rằng những nhân viên không có động lực có thể làm ít công việc hơn, làm công việc kém chất lượng, trốn tránh công việc và bỏ việc nếu họ có cơ hội. Mặt khác, nhân viên có động lực luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ, có sự sáng tạo trong quá trình làm việc và luôn hướng đến mục tiêu tạo ra công việc có chất lượng.
Vì vậy, nhà quản lý cần có kỹ năng khuyến khích tính tự giác và tính tự phát của nhân viên để tạo động lực làm việc nhằm đạt được hiệu quả tốt và vượt mong đợi [18]. Động lực làm việc chỉ là nguồn gốc chứ không phải là yếu tố quyết định làm cho năng suất lao động của NLĐ tăng lên. Mà điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như trình độ chuyên môn, thâm niên, kinh nghiệm của NLĐ hay máy móc, trang thiết bị hỗ trợ trong quá trình lao động. Theo Vũ Thị Uyên (2008) cho rằng “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức”[17].
Dựa trên ý nghĩa của động lực từ các học giả khác nhau, tác giả đưa ra quan điểm của mình về động lực như sau: “Động lực lao động là trạng thái cảm xúc bên trong của người lao động nhằm định hướng hành vi thực hiện các hành động có chủ đích để đạt được mục tiêu mà mình đề ra và phù hợp với mục tiêu của tổ chức”. Tạo động lực lao động Tạo động lực là một quá trình dây chuyền bắt đầu từ cảm giác thiếu thốn đi kèm với mong muốn và dẫn đến hành động để đạt được mục tiêu, kết quả. Sự liên tục của quá trình này có thể dẫn đến sự thoả mãn các nhu cầu. Vì vậy, bản chất của tạo động lực là nhận biết nhu cầu của người lao động, đáp ứng nhu cầu hợp lý của họ, cải thiện hiệu suất để họ làm việc một cách chủ động, tự giác theo những cách thức sáng tạo và hiệu quả nhất.
Theo Vũ Thị Uyên (2008) “Tạo động lực là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp” [17]. Shadare & cộng sự (2009) cho rằng “Tạo động lực cho nhân viên là một trong những chính sách của nhà lãnh đạo nhằm gia tăng hiệu quả quản lý công việc giữa các nhân viên trong tổ chức”. Một nhân viên có động lực sẽ xác định mục tiêu cần đạt được. Khi đó cơ sở vật chất của tổ chức sẽ được người lao động sử dụng một cách hiệu quả.
Các nhà quản lý biết cách tạo động lực lao động tích cực sẽ làm cho hiệu suất và năng suất lao động của người lao động trong tổ chức cao hơn. Nhưng nếu họ vận dụng các công cụ tạo động lực sai sẽ tạo ra sự bất mãn của người lao động và làm giảm hiệu quả làm việc. Động lực làm tăng sự sẵn sàng làm việc của người lao động, do đó làm tăng hiệu quả của tổ chức. Mục tiêu của tổ chức là phát triển nhân viên có động lực và hỗ trợ tinh thần của họ liên quan đến hoạt động tương ứng để có hiệu suất tốt hơn.
Từ quan điểm của các tác giả trên, tác giả cho rằng tạo động lực chính là quá trình giúp động lực lao động của cá nhân người lao động được nảy sinh và có xu hướng gia tăng theo thời gian. Do đó “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các công cụ, phương tiện, chính sách,.