CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Cơ sở lý luận về nâng cao động lực làm việc cho điều dưỡng viên 1. Một số khái niệm 1. Điều dưỡng viên Điều dưỡng viên là người phụ trách công tác điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe, kiểm tra tình trạng bệnh nhân và các công việc khác để phục vụ cho quá trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đến khi phục hồi, trị liệu cho bệnh nhân.
Theo một định nghĩa khác thì Điều dưỡng viên (bao gồm cả nam và nữ) là những người có nền tảng khoa học cơ bản về điều dưỡng, đáp ứng các tiêu chuẩn theo sự giáo dục và sự hoàn thiện lâm sàng (Kersey, 2006). Điều dưỡng là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao, tối ưu về sức khỏe và các khả năng; dự phòng bệnh và sang thương; xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Ở Việt Nam, trước đây người điều dưỡng được gọi là Y tá, có nghĩa là người phụ tá của người thầy thuốc. Ngày nay, điều dưỡng đã được xem là một nghề độc lập trong hệ thống y tế do đó người làm công tác điều dưỡng được gọi là điều dưỡng viên.
Người điều dưỡng hiện có nhiều cấp bậc, trình độ và đã được quy định rất cụ thể và chi tiết trong hệ thống ngạch bậc công chức theo các văn bản quy định của Bộ Nội vụ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể, điều dưỡng hạng II (Mã số: V.11), điều dưỡng hạng III (Mã số: V.12), điều dưỡng hạng IV (Mã số: V. Đặc điểm của điều dưỡng viên Người đầu tiên tiếp xúc với người bệnh khi vào viện; là người trực tiếp chăm sóc về thuốc, chăm sóc về thể chất, tinh thần cho người bệnh và cũng là người cuối cùng hướng dẫn người bệnh ra viện. 5 Các dịch vụ chăm sóc do điều dưỡng viên cung cấp có phạm vi rất rộng, từ việc hỗ trợ chẩn đoán và điều trị, thực hiện các kỹ thuật từ chăm sóc tinh xảo đến chăm sóc vệ sinh cơ thể cho người bệnh.
Trong mọi hoạt động chuyên môn, công tác điều dưỡng luôn diễn ra trước để bảo đảm cho công tác điều trị của thầy thuốc được an toàn. Dịch vụ chăm sóc của điều dưỡng trực tiếp tác động vào chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm biến chứng và tử vong cho người bệnh. Động lực làm việc Theo Mitchell (1982), “Động lực thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tỉnh, định hướng và kiên trì thực hiện của các hoạt động tự nguyện nhằm đạt được mục tiêu”. Higgins (1994) đưa ra khái niệm “Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn”.
Theo Robbins (1998), “Động lực làm việc là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ”. Hay nói cách khác động lực là lý do hoặc các lý do mà nhân viên làm việc, duy trì làm việc và đóng góp tích cực cho môi trường làm việc của mình. Để đạt được mục tiêu, cá nhân cần hiểu rõ những gì họ đạt được, cần phải được khuyến khích và có nhiệt tình để đạt mục tiêu. Động lực là một tập hợp các quá trình kích thích chủ thể, khởi xướng, xúi giục và tác động đến hành vi để cá nhân thực hiện nhiệm vụ của mình.
Các cá nhân có động cơ tích cực làm tăng hiệu quả và hiệu suất của tổ chức (Dahshan & cộng sự, 2017). Ngoài ra, động lực làm việc còn là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể (Nói cách khác, động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động). Động lực chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt. Chúng được chia làm ba loại yếu tố cơ bản đó là: Loại 1: Những yếu tố thuộc về con người là những yếu tố xuất hiện trong 6 chính bản thân con người thúc đẩy con người làm việc như: lợi ích của con người, mục tiêu cá nhân, thái độ của cá nhân, khả năng và năng lực của cá nhân, thâm niên, kinh nghiệm công tác.
Loại 2: Các nhân tố thuộc môi trường là những nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đến người lao động như: Văn hóa của doanh nghiệp, chính sách về nhân sự. Loại 3: Các yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc là yếu tố chính quyết định ảnh hưởng đến thù lao lao động và mức tiền lương của người công nhân trong tổ chức như: tính ổn định và mức độ tự chủ của công việc, mức độ khác nhau về nhiệm vụ, trách nhiệm, sự phức tạp của công việc, sự hấp dẫn và thích thú trong công việc (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2012). Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2011) cho rằng, “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao, biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân.
Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực. Nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan tỏng công việc, Tại thời điểm này một người lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động chưa chắc đã còn trong họ. Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc.
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực làm việc của nhân viên. Tuy nhiên, có thể rút ra được rằng động lực là nguồn lực tạo ra sự mong muốn, khao khát của cá nhân để thỏa mãn nhu cầu về tâm sinh lý của họ. Tổ chức cần phải tìm ra những yếu tố tạo động lực, kích thích nhân viên nhằm làm thỏa mãn 7 nhân viên để khuyến khích họ thực hiện công việc tốt nhất, giúp tổ chức duy trì và đạt mục tiêu dài hạn. Động lực làm việc được hiểu như một nội lực thúc đẩy nhân viên hoàn thành mục tiêu của cá nhân và tổ chức.
Khái niệm động lực làm việc của điều dưỡng viên Động lực lao động hay động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động nhằm tăng cường nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể (Hồ Thị Thu Hằng & cộng sự, 2015). Dựa trên khái niệm về động lực lao động nói chung, trong luận văn này, động lực làm việc của điều dưỡng viên được hiểu là sự khao khát và tự nguyện của điều dưỡng viên nhằm tăng cường nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể. Đặc điểm động lực làm việc của điều dưỡng viên Động lực làm việc của Điều dưỡng viên thể hiện sự thôi thúc, khát khao để hoàn thành công việc được giao đạt kết quả và hiệu suất làm việc. Động lực làm việc của Điều dưỡng viên thường gắn với các kích thích bắt nguồn từ bên trong (tính cách, đặc điểm nhân khẩu học,.) và các nhân tố tác động bên ngoài (tổ chức, lãnh đạo, chính sách tiền lương,.) ảnh hưởng đến điều dưỡng viên trong quá trình làm việc.
Nâng cao động lực làm việc Là tất cả những hoạt động mà doanh nghiệp có thể thực hiện được đối với người lao động, tác động đến khả năng làm việc, tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động. Tạo động lực gắn liền với lợi ích hay nói cách khác là lợi ích tạo ra động lực trong lao động. Song, trên thực tế động lực được tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào điều đó phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó như một nhân tố cho sự phát triển của xã hội. Muốn lợi ích tạo ra động lực phải tác động vào nó, kích thích làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng cụ thể (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2012).
Các lý thuyết về động lực làm việc của người lao động 1. Lý thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow (1954) 8 Trong lý thuyết này, Maslow sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc tăng dần bao gồm: Nhu cầu sinh lý: Nhu cầu này bao gồm những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của con người nhằm đảm bảo mục đích sinh tồn như ăn, uống, ngủ, thở, và các nhu cầu về sự thoải mái như chỗ ở, quần áo. Nhu cầu được an toàn: Khi các nhu cầu ở mức độ sinh lý đã được thỏa mãn, con người hướng tới những nhu cầu về sự an toàn của bản thân. Họ mong muốn được bảo vệ tính mạng khỏi các nguy hiểm và sự an toàn, ổn định trong đời sống.
Nhu cầu được an toàn ở đây không chỉ là an toàn về thể chất và sức khỏe, nó còn là mong muốn được an toàn về mặt tinh thần về điều kiện tài chính của bản thân. Nhu cầu về xã hội: Nhóm nhu cầu xã hội bao gồm: nhu cầu yêu và được yêu, được chấp nhận và thuộc về một cộng đồng nào đó. Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc kết giao bạn bè, tìm người yêu, tham gia hoạt động xã hội, câu lạc bộ,… Ở cấp độ này, những nhu cầu thuộc về tình cảm chính là yếu tố tác động và chi phối hành vi của con người. Vai trò của nhóm nhu cầu này rất quan trọng, Maslow cũng đã nhấn mạnh rằng, mặc dù đây không phải là nhu cầu ở cấp bậc cao nhất nhưng nếu nó không được thỏa mãn và đáp ứng, con người có thể mắc phải những bệnh trầm trọng về tinh thần, tâm lý.
Nhu cầu được quý trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng và được xếp vào loại nhu cầu bậc cao con người.