Các yếu tố tác động đến khởi sự kinh doanh thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam

Chuyên khảo phân tích Các yếu tố tác động tới khởi sự kinh doanh thành công của nữ doanh nhân tại việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

219
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về khởi sự kinh doanh của nữ doanh nhân tại Việt Nam

Khởi sự kinh doanh (KSKD) của nữ doanh nhân tại Việt Nam đang trở thành một chủ đề nóng hổi trong bối cảnh nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Nữ doanh nhân không chỉ đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho xã hội. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tỷ lệ doanh nghiệp do nữ làm chủ đã tăng lên đáng kể, cho thấy sự tham gia tích cực của họ trong lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức mà họ phải đối mặt trong quá trình khởi sự và phát triển doanh nghiệp.

1.1. Định nghĩa và vai trò của nữ doanh nhân trong kinh doanh

Nữ doanh nhân được định nghĩa là những người phụ nữ sở hữu và điều hành doanh nghiệp. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tạo ra việc làm và cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng. Nghiên cứu cho thấy, nữ doanh nhân thường có xu hướng chia sẻ lợi nhuận và tạo ra môi trường làm việc tích cực hơn.

1.2. Tình hình khởi sự kinh doanh của nữ doanh nhân tại Việt Nam

Tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp do nữ làm chủ đã tăng lên đáng kể trong những năm qua. Theo báo cáo của GEM, tỷ lệ nữ doanh nhân ở giai đoạn đầu KSKD tại Việt Nam đạt khoảng 21%. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp này là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), cho thấy sự cần thiết phải có các chính sách hỗ trợ phù hợp.

II. Các thách thức trong khởi sự kinh doanh của nữ doanh nhân

Mặc dù có nhiều cơ hội, nữ doanh nhân vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình khởi sự kinh doanh. Những rào cản này có thể đến từ cả yếu tố xã hội lẫn yếu tố cá nhân. Việc thiếu nguồn lực tài chính, mạng lưới hỗ trợ và định kiến xã hội là những vấn đề phổ biến mà họ gặp phải.

2.1. Rào cản tài chính trong khởi sự kinh doanh

Nữ doanh nhân thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Theo nghiên cứu của Kamberidou (2013), nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính có xu hướng ưu tiên cho nam giới hơn trong việc cấp vốn. Điều này tạo ra một rào cản lớn cho nữ doanh nhân trong việc khởi sự và mở rộng doanh nghiệp.

2.2. Định kiến xã hội và vai trò giới

Định kiến xã hội về vai trò của phụ nữ trong kinh doanh vẫn còn tồn tại. Nhiều người vẫn cho rằng phụ nữ không đủ khả năng lãnh đạo hoặc quản lý doanh nghiệp. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý của nữ doanh nhân mà còn làm giảm cơ hội phát triển của họ.

III. Các yếu tố quyết định khởi sự kinh doanh thành công của nữ doanh nhân

Để đạt được thành công trong khởi sự kinh doanh, nữ doanh nhân cần phải chú ý đến nhiều yếu tố khác nhau. Những yếu tố này bao gồm khả năng quản lý tài chính, kỹ năng lãnh đạo, và mạng lưới hỗ trợ. Nghiên cứu cho thấy, những nữ doanh nhân có khả năng quản lý tốt thường có tỷ lệ thành công cao hơn.

3.1. Kỹ năng quản lý tài chính

Quản lý tài chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành công của nữ doanh nhân. Họ cần phải có khả năng lập kế hoạch tài chính, kiểm soát chi phí và tối ưu hóa nguồn lực để đảm bảo doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.

3.2. Kỹ năng lãnh đạo và quản lý nhân sự

Kỹ năng lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ nhân viên và tạo ra môi trường làm việc tích cực. Nữ doanh nhân cần phải phát triển khả năng giao tiếp, động viên và dẫn dắt nhân viên để đạt được mục tiêu kinh doanh.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về nữ doanh nhân

Nghiên cứu về khởi sự kinh doanh của nữ doanh nhân tại Việt Nam đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Các chính sách hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức phi chính phủ đã giúp nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực cho nữ doanh nhân. Những kết quả này không chỉ giúp họ phát triển doanh nghiệp mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước.

4.1. Các chính sách hỗ trợ cho nữ doanh nhân

Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách nhằm hỗ trợ nữ doanh nhân, bao gồm các chương trình đào tạo, hỗ trợ tài chính và tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận thị trường. Những chính sách này đã giúp nâng cao tỷ lệ thành công trong khởi sự kinh doanh của nữ giới.

4.2. Kết quả nghiên cứu về khởi sự kinh doanh của nữ doanh nhân

Nghiên cứu cho thấy, nữ doanh nhân có khả năng tạo ra việc làm cao hơn so với nam giới. Họ thường có xu hướng chia sẻ lợi nhuận và tạo ra môi trường làm việc tích cực hơn, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

V. Kết luận và tương lai của khởi sự kinh doanh nữ doanh nhân tại Việt Nam

Khởi sự kinh doanh của nữ doanh nhân tại Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, để đạt được thành công bền vững, cần có sự hỗ trợ từ nhiều phía, bao gồm chính phủ, cộng đồng và các tổ chức xã hội. Tương lai của nữ doanh nhân sẽ phụ thuộc vào khả năng vượt qua các thách thức và tận dụng các cơ hội trong môi trường kinh doanh.

5.1. Tương lai của nữ doanh nhân tại Việt Nam

Với sự phát triển của công nghệ và thị trường, nữ doanh nhân có nhiều cơ hội để mở rộng kinh doanh. Tuy nhiên, họ cũng cần phải chuẩn bị tốt về mặt kỹ năng và kiến thức để đối mặt với những thách thức mới.

5.2. Khuyến nghị cho các chính sách hỗ trợ nữ doanh nhân

Cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể hơn cho nữ doanh nhân, bao gồm việc tạo ra các chương trình đào tạo, hỗ trợ tài chính và xây dựng mạng lưới kết nối. Những chính sách này sẽ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững cho nữ doanh nhân tại Việt Nam.

09/07/2025
Các yếu tố tác động tới khởi sự kinh doanh thành công của nữ doanh nhân tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KSKD THÀNH CÔNG CỦA NỮ DOANH NHÂN 1. Khởi sự kinh doanh của doanh nhân 1. Khởi sự kinh doanh và doanh nhân 1.1 Khái niệm KSKD (entrepreneurship) Khởi sự theo nghĩa tiếng việt là bắt đầu hành động để thực hiện theo kế hoạch (một việc quan trọng).

KSKD theo nghĩa bắt đầu thực hiện một công việc kinh doanh. Khởi sự kinh doanh có thể là mở một doanh nghiệp mới (start a new business) hoặc tạo ra một liên doanh (new venture creation), hoặc tinh thần kinh doanh (entrepreneurship). Một khía cạnh khác, KSKD được định nghĩa là tự làm chủ, tự kinh doanh (self-employment). Trên giác độ nghiên cứu khác nhau, thì KSKD được gắn với các thuật ngữ khác nhau.

KSKD thường gắn với 2 thuật ngữ tương ứng với hai hướng nghiên cứu như sau: - KSKD là một sự lựa chọn nghề nghiệp (self-employment). Theo hướng nghiên cứu này KSKD là một sự lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro tự làm chủ công việc kinh doanh của mình và thuê người khác làm công cho mình. - Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, khởi sự kinh doanh gắn với thuật ngữ “entrepreneurship – tinh thần kinh doanh” các nghiên cứu trong lĩnh vực này được nhiều các nhà nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau. Jennings (1994) định nghĩa KSKD bao gồm bất kỳ nỗ lực nào của con người để thử một cái gì đó mới.

Các định nghĩa về KSKD của Schumpeter (1961) và Kirzner (1973, 1979) chú trọng đến sự đổi mới, xác định cơ hội, tạo ra sự giàu có, tăng trưởng cho nền kinh tế. Phù hợp với ý tưởng KD của Schumpeter và Kirzner, Murray (1938) cũng mô tả KSKD là một quá trình năng động được tạo ra và quản lý bởi một cá nhân. Vanderwerf và Brush (1989) trong việc xem xét 25 định nghĩa về KSKD cho thấy rằng KSKD đã được định nghĩa là một hoạt động KD bao gồm một số hành vi con người sau đây: thứ nhất là sáng tạo, đó là việc thành lập một DN mới; thứ hai là quản lý chung, đó là hướng quản lý hoặc phân bổ NL cho một DN; thứ ba là đổi mới, đó là việc khai thác thương mại một số sản phẩm, quy trình, thị trường, vật liệu hoặc tổ chức mới; thứ tư là sự chấp nhận rủi ro cao không phổ biến từ những mất mát tiềm tàng hoặc thất bại của một DN; và thứ năm là ý định thực hiện, đó là ý định nhận ra 10 mức tăng trưởng cao và/ hoặc lợi nhuận thông qua tạo lập một DN. Hai khái niệm tự tạo việc làm và tinh thần kinh doanh có sự khác biệt.

Tự tạo việc làm là bắt đầu bằng một công việc kinh doanh tự làm và không làm thuê cho ai. Tinh thần kinh doanh là tạo ra một DN nhưng có thể vẫn đi làm cho một tổ chức khác. Khái niệm KSKD trong nghiên cứu này sử dụng khái niệm với nghĩa tinh thần kinh doanh (entrepreneurship) đó là tạo ra DN mới, sử dụng NL, sản xuất kinh doanh với mục tiêu lợi nhận/tăng trưởng. Từ những nghiên cứu trên về định nghĩa KSKD, trong phạm vi luận án này thuật ngữ KSKD được định nghĩa là một hành động sáng tạo của con người.

KSKD bắt đầu bằng cách tìm kiếm NL và phương tiện tài chính cá nhân để bắt đầu thành lập và vận hành một DN mới. KSKD là một quá trình sáng tạo đòi hỏi phải xác định và nắm bắt được cơ hội KD, tổ chức các NL hiện có để chuyển đổi những cơ hội đó thành sản phẩm hoặc dịch vụ và bán ra thị trường. Qua thời gian, nỗ lực và tài chính, KSKD làm tăng giá trị, kỹ năng cá nhân và lợi ích của xã hội (XH).2 Doanh nhân - Người KSKD (Entrepreneur) Schumpeter (1954) cho rằng doanh nhân là người sáng tạo. Ông lập luận rằng doanh nhân là người tạo ra sự đổi mới, tạo ra sự phát triển thực sự trong nền kinh tế.

Schumpeter là người chú ý nhiều nhất đến doanh nhân sáng tạo. Sự đổi mới ở những doanh nhân làm cho nền kinh tế phát triển. Vì vậy doanh nhân là những người đóng góp hơn so với những người khác vào nền kinh tế nhờ sự đổi mới và thực hiện các kết hợp mới. Sự đổi mới này có thể là tạo ra một sản phẩm mới, một phương pháp sản xuất mới, nắm bắt nguồn cung cấp mới hoặc một tổ chức công nghiệp mới.

Wennekers và Thurik (1999) nhận định những doanh nhân theo quan điểm Schumpeter chủ yếu sở hữu và điều hành DN nhỏ. Kirzner (1979), miêu tả các doanh nhân người Áo như một chuyên gia phân tích, xác định cơ hội và tìm kiếm lợi nhuận. Kirzner cho rằng kiến thức phân bổ không đều giữa các các doanh nhân, và kết quả là thị trường sử dụng NL không hoàn hảo. Sự không phù hợp về kiến thức, thông tin và những khoảng trống mà những người khác chưa nhận thức và khai thác trong hoạt động KD đã biến hành những cơ hội lợi nhuận cho những cá nhân có kiến thức đặc biệt và độc đáo về sự khác biệt của thị trường.

Theo Kirzner, các doanh nhân là những người trong nền kinh tế khai thác những cơ hội lợi nhuận này. Vì vậy doanh nhân là những người nhận ra các cơ hội mang lại lợi nhuận từ những thay đổi không lường trước và thực hiện KSKD. Nhiều nhà nghiên cứu đã đầu tư thời gian và nỗ lực để tạo ra một bức tranh rõ nét 11 về đặc điểm và vai trò của doanh nhân. Một số đặc điểm của doanh nhân được xuất hiện trong các nghiên cứu như sau: Thứ nhất, doanh nhân là người chấp nhận rủi ro.

Cantillon (1755) (trích dẫn Murphy, 1989) nhấn mạnh tầm quan trọng của doanh nhân như là một chuyên gia phân tích, người thực hiện tất cả các trao đổi và chịu rủi ro do mua ở một số mức giá nhất định và bán ở những nơi không chắc chắn. Theo Cantillon, doanh nhân là người thông thái, thông minh và sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Các nhà nghiên cứu của Mỹ, Carland và Stewart (1996) cho thấy xu hướng giảm rủi ro vẫn là một khía cạnh quan trọng của tâm lý doanh nhân, và cho rằng chấp nhận rủi ro là một yếu tố cơ bản trong hoạt động KD. Thứ hai, doanh nhân là người sáng tạo.

Quan điểm của Schumpeter về đổi mới KD bắt nguồn từ các lý thuyết cổ điển của các nhà kinh tế như Say và Marshall. Trong các nghiên cứu khác, đổi mới vẫn là một đặc điểm chức năng được xác định thường xuyên của các doanh nhân (Brockhaus, 1982; Gartner, 1990, McClelland, 1961; Timmons, 1978). Timmons (1978) cho rằng sự sáng tạo và đổi mới là những điều kiện vốn có của doanh nhân. Thứ ba, doanh nhân là những người có nhu cầu thành tích cao.

Nhu cầu thành tích cao là một đặc điểm phổ biến khác đã được xác định để mô tả doanh nhân (McClelland, 1961). McClelland (1961) kết luận rằng nhu cầu thành tích cao sẽ ảnh hưởng đến việc tự lựa chọn một vị trí KD. Nhiều nghiên cứu tiếp theo đã cho thấy mối quan hệ tích cực giữa nhu cầu thành tích cao và KSKD (Begley và Boyd, 1986; Davidsson, 1989). Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cho thấy nhu cầu thành tích không phải là biến số quan trọng nhất để dự đoán khả năng KSKD (Hull và cộng sự,1980).

Thứ tư, doanh nhân là những cá nhân tạo nên sự khác biệt (Baron và Shane, 2005; Birley and Muzyka, 2000). Họ biến đổi một ý tưởng đơn giản, không rõ ràng thành một hoạt động KD. Họ có những cách riêng để đối phó với những cơ hội, những trở ngại và không chắc chắn để tạo ra các sản phẩm mới, dịch vụ mới, các tổ chức mới và những cách thức mới để thỏa mãn KH và làm tăng giá trị (Birley và Muzyka, 2000). Doanh nhân tiếp thu và sử dụng các NL để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng được KH và thị trường.

Giá trị được tạo ra thông qua quá trình chuyển đổi. Doanh nhân biến những ý tưởng của các nhà phát minh thành những sản phẩm thực tế để đáp ứng nhu cầu thị trường. Điều mà các nhà phát minh không thể thực hiện. Thứ năm, Doanh nhân là những cá nhân kết nối với nhau theo một mạng lưới (Zimmerer và Scarborough, 2005) được gọi là mạng lưới XH.

Hạn chế về NL, đặc biệt là nguồn tài chính tạo cho doanh nhân sử dụng mạng lưới XH để có được thông tin, sự 12 ưu đãi, thỏa thuận và hành động. Mạng lưới XH giúp họ có sự hỗ trợ NL cho hoạt động KD. Bên cạnh đó, mạng lưới XH giúp họ có được sự ủng hộ và tư vấn để có sự lựa chọn cơ hội đúng. Nhận thức về doanh nhân là tạo ra và phát triển một DN mới và thành công.

Doanh nhân là nhân tố trung tâm của quá trình KSKD. Quá trình KSKD của doanh nhân là quá trình năng động, xuất phát từ ý chí của doanh nhân để nhận biết cơ hội, chấp nhận rủi ro, tạo giá trị thông qua việc phân bổ các kỹ năng và NL cần thiết. Như vậy, doanh nhân là người nhận ra cơ hội, có khả năng sáng tạo và các kỹ năng thực tiễn để biến cơ hội thành hoạt động KD thông qua thành lập DN mới thành công. Các hướng nghiên cứu KSKD của doanh nhân Với ý nghĩa KSKD là cần thiết đối với tăng trưởng kinh tế, ngày nay có rất nhiều nghiên cứu về KSKD với các mục tiêu và hướng nghiên cứu khác nhau.

Có thể tổng hợp các nghiên cứu KSKD của doanh nhân qua các giai đoạn của quá trình KSKD gồm các giai đoạn sau: dự định KSKD, quyết định KSKD và KSKD thành công. - Các nghiên cứu về dự định KSKD của doanh nhân Các nghiên cứu về dự định KSKD của doanh nhân giải thích các nhân tố tác động đến ý định KSKD. Các nghiên cứu này tập trung giải thích các nhân tố tác động tới nhận thức và nảy sinh ý định KSKD của một cá nhân. Các mô hình nghiên cứu về ý định KSKD được ứng dụng từ mô hình hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) – TPB.

Lý thuyết về hành vi có kế hoạch cho rằng hành vi của con người là kết quả của dự định thực hiện hành vi và khả năng kiểm soát của họ. Mô hình đề xuất 3 nhân tố tác động tới dự định KSKD là chuẩn mực xã hội, thái độ đối với hành vi và cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi (Hình 1. Thái độ đối với hành vi Hành vi Chuẩn mực xã hội Dự định KSKD KSKD Cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Các yếu tố quyết định khởi sự kinh doanh thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của nữ doanh nhân trong môi trường kinh doanh hiện nay. Tài liệu nhấn mạnh vai trò của động lực, sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng, cũng như các chính sách từ nhà nước trong việc khuyến khích và tạo điều kiện cho nữ doanh nhân phát triển. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích giúp họ hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội mà nữ doanh nhân phải đối mặt, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn kinh doanh của mình.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tiểu vùng tây bắc, nơi phân tích sâu hơn về động lực kinh doanh của nữ doanh nhân. Ngoài ra, tài liệu Phân tích tác động của môi trường kinh doanh đến sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh kinh doanh mà nữ doanh nhân đang hoạt động. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa Việt Nam cũng cung cấp cái nhìn tổng quan về các yếu tố quyết định sự phát triển của doanh nghiệp trong nước. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về khởi sự kinh doanh và phát triển doanh nghiệp tại Việt Nam.