Phần mở đầu Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 4: Phương pháp nghiên cứu Chương 5: Kết quả nghiên cứu Chương 6: Thảo luận và khuyến nghị Kết luận 11 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tổng quan về động lực và động lực kinh doanh 2. Khái niệm Theo từ điển tiếng Việt động lực là điều gì đó khiến con người ta phải nỗ lực, sự cố gắng hết sức, sự thôi thúc làm cái gì đó. Các lý thuyết động lực khác nhau đều cho rằng động lực là cơ sở của hầu hết hành vi của con người (Weiner, 1985).
Thuật ngữ, "Động lực" có nguồn gốc từ tiếng Latinh "movere", với ý nghĩa ban đầu là "chuyển động". Điều này có nghĩa là chuyển từ hoàn cảnh hiện tại sang trạng thái tốt hơn. Trong tiếng Anh động cơ (“motive”) và động lực (“motivation”) thường được dịch là động cơ. Tuy nhiên, đây là hai khái niệm khác nhau, động cơ là lý do để làm điều gì đó, còn động lực liên quan đến sức mạnh, định hướng hành vi và các yếu tố khiến người ta hành xử theo những cách nhất định.
Thuật ngữ “động lực” có thể đề cập đến mục tiêu khác nhau của từng cá nhân, cách thức mà cá nhân lựa chọn mục tiêu và cách thức mà những người khác cố gắng thay đổi hành vi của họ. Trong tâm lý học, định nghĩa hiện phổ biến về động lực là quá trình bên trong gây ra các hoạt động cá nhân, duy trì các hoạt động này và thực hiện các hoạt động hướng tới một mục tiêu nhất định (Bandura, 1977). Động lực đề cập đến trạng thái tâm lý đặc biệt và sự sẵn lòng được tạo ra bởi nhu cầu cụ thể và hy vọng đáp ứng các nhu cầu khác nhau, đó cũng là cách tư duy tâm lý mà một người muốn làm điều gì đó. Động lực là một quá trình tâm lý nội tâm (bên trong), nó không thể được quan sát trực tiếp, nhưng nó có thể được suy luận qua các nhiệm vụ như lựa chọn công việc, mức độ nỗ lực, sự kiên trì và ngôn ngữ của cá nhân.
Động lực phải có mục tiêu, mục tiêu hướng dẫn hành vi cá nhân, và mang đến động lực bên trong. Động lực đòi hỏi các hoạt động khuyến khích cá nhân đạt được mục tiêu của họ (Bandura, 1977). Mặc dù động lực thuộc về một quá trình tâm lý bên trong, nhưng trong những năm gần đây, một số nhà tâm lý học đã chia động lực theo nguồn thành động lực từ môi trường bên ngoài và động lực của các yếu tố tâm lý bên trong. Người ta cho rằng động lực được thúc đẩy bởi môi trường bên ngoài chủ yếu là do môi trường bên ngoài kích thích nhu cầu của họ, còn động lực bên trong là do nhu cầu vốn có của cá nhân.
Động lực bên trong thường chỉ ra các nhu cầu bậc cao của lý thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow, chẳng hạn như tự thực hiện, trong khi động lực bên ngoài thường chỉ ra các nhu cầu bậc thấp, như nhu cầu an toàn và nhu cầu thuộc về bản thân cá nhân (Vallerand và cộng sự, 1992). 12 Ở lĩnh vực kinh tế và quản lý, động lực thúc đẩy làm chuyển biến, đổi mới hoàn cảnh tạo động lực phát triển kinh tế. Động lực có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau như Goleman (2001) đã xác định động lực là niềm đam mê làm việc vì những lý do vượt ra khỏi tiền bạc hoặc địa vị xã hội và khuynh hướng theo đuổi các mục tiêu với lòng nhiệt huyết và sự kiên trì. Để có hiệu quả kinh doanh, động lực là rất quan trọng bởi nó là một trạng thái hoặc tình trạng bên trong (đôi khi được mô tả như là một nhu cầu, khát vọng hoặc mong muốn) để kích hoạt hoặc tiếp sức cho hành vi và đưa ra định hướng cá nhân.
Dù trong lĩnh vực kinh tế hay tâm lý học, các định nghĩa được đưa ra đều dựa trên ba thành phần của động lực như Arnold và cộng sự (1998) đã nêu: thứ nhất, định hướng, nghĩa là những gì một cá nhân đang cố gắng làm; thứ hai, nỗ lực, nghĩa là một cá nhân đang cố gắng như thế nào; và thứ ba, sự kiên trì, nghĩa là một người tiếp tục cố gắng trong bao lâu. Rõ ràng động lực liên quan đến động lực thúc đẩy một cá nhân hành xử theo một cách nhất định để có được sự hài lòng hoặc thành công mà họ cần trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh. Đó cũng là hành vi hướng đến mục tiêu. Động lực của một cá nhân bị thúc đẩy bởi các yếu tố tâm lý bên trong (động lực kéo) và môi trường bên ngoài (động lực đẩy).
Các loại động lực Động lực có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào quan điểm, cách sắp xếp của các nhà nghiên cứu và các lý thuyết về động lực cá nhân, hành vi, mục tiêu cần đạt được, hiệu quả kinh doanh và môi trường. Tuy nhiên, trong số những phân loại này, được chấp nhận rộng rãi và phổ biến nhất bởi nguyên nhân hình thành và biểu hiện của động lực, cụ thể như sau: - Theo biểu hiện của động lực + Động lực ngầm (tiềm ẩn) là những xung động tự phát để hành động và được kích thích thông qua các ưu tiên vốn có đối với nhiệm vụ. + Động lực bộc lộ (hiện) được thể hiện thông qua các lựa chọn có chủ ý và thường xuyên bị kích thích vì các lý do bên ngoài. Những cá nhân có nhu cầu tiềm ẩn mạnh mẽ sẽ đạt được các mục tiêu đặt ra với tiêu chuẩn bên trong cao hơn, trong khi những người khác lại có xu hướng tuân thủ các quy tắc xã hội.
Hai động lực này thường hoạt động cùng nhau để xác định hành vi của cá nhân theo định hướng và niềm đam mê (Ryan and Deci, 2000). Thái độ đối với nhiệm vụ được đẩy mạnh khi đối mặt với một thách thức thông qua động lực ngầm, mục tiêu chính là làm cho việc thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao nhất. Theo 13 Rabideau (2005), một người có động lực ngầm mạnh mẽ sẽ cảm thấy vui khi đạt được mục đích một cách hiệu quả nhất. Sự nỗ lực và vượt qua thách thức bằng cách thực hiện nhiệm vụ để thỏa mãn cá nhân.
Tuy nhiên, động lực bộc lộ được xây dựng xung quanh hình ảnh của một con người. Loại động lực này hình thành hành vi của một người dựa trên quan điểm của họ và có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn và phản hồi của họ từ các tín hiệu bên ngoài. Tác nhân chính cho loại động lực này là nhận thức hoặc khả năng nhận thức. - Theo nguyên nhân của động lực + Động lực bên trong được định nghĩa là việc thực hiện một hoạt động nào đó vì sự hài lòng vốn có của nó hơn là cho một số kết quả riêng biệt.
Nói cách khác, động lực bên trong có thể phát sinh từ các yếu tố tự tạo ra trong hành vi của mọi người. Nó có thể ở dạng động lực bởi chính công việc khi các cá nhân cảm thấy rằng công việc của họ là quan trọng, thú vị và đầy thách thức và cung cấp cho họ mức độ tự chủ hợp lý (tự do hành động). Một người có động lực bên trong sẽ thay đổi hành động vì niềm vui khi thách thức đòi hỏi nhiều hơn là vì những sự thúc đẩy, áp lực hoặc phần thưởng bên ngoài đem lại (Ryan and Deci, 2000). Ryan and Deci cho biết thêm rằng động lực bên trong tồn tại trong mối quan hệ giữa các cá nhân và hoạt động.
Mọi người có động lực từ bản thân cho một số hoạt động chứ không phải từ người khác và không phải ai cũng có động lực từ bản thân cho một nhiệm vụ cụ thể. Như vậy, có thể nói rằng động lực bên trong rõ ràng là một phần quan trọng trong việc bắt đầu và điều hành DN. Các tài liệu về các yếu tố động lực bên trong đã bị ảnh hưởng chủ yếu bởi “lý thuyết tự quyết định”, được phát triển bởi Deci (1975). Lý thuyết này cho thấy con người bị thúc đẩy bởi nhu cầu phát triển để đạt được sự thành công, nhu cầu này thể hiện ở những dạng người có xu hướng phát triển vốn có.
Động lực bên trong giúp chúng ta giải thích lý do tại sao các cá nhân cố gắng hướng tới sự phát triển. Lý thuyết tự quyết định cho rằng con người hoạt động hướng tới sự phát triển. Sự phát triển này đạt được thông qua việc vượt qua những thách thức và tiếp nhận những trải nghiệm mới. Một số học giả xác định năng lực, sự liên kết và quyền tự chủ tạo ra động lực bên trong thông qua việc kết hợp giữa phát triển và ý thức bản thân (Ryan and Deci, 2000).
Động lực bên trong thúc đẩy phát triển và làm chủ những thách thức, nó trở thành một khía cạnh quan trọng của ĐLKD. Thúc đẩy sức mạnh bên trong cá nhân thực chất sẽ quyết định sự cam kết mà họ sử dụng để đạt được mục tiêu. Đó là sự cần thiết thúc đẩy các cá nhân hướng tới sự 14 phát triển bản thân. Động lực bên trong dẫn đến sự điều tiết bên trong, từ đó cho phép các cá nhân hành động.
Động lực bên trong là chỉ số tốt nhất về việc một cá nhân sẽ hành động theo hướng phát triển so với việc có xu hướng duy trì sự thụ động và trì trệ Deci (1975). Các tài liệu về ĐLKD đã xác định được nhiều đặc điểm tính cách và các yếu tố bên trong thúc đẩy các doanh nhân hành động (Shane và cộng sự, 2003). + Động lực bên ngoài đề cập đến việc làm một cái gì đó bởi vì nó dẫn đến một kết quả riêng biệt. Do đó, động lực bên ngoài tương phản với động lực bên trong, nó đề cập đến việc thực hiện một hoạt động chỉ đơn giản là để tận hưởng thành quả của chính hoạt động đó, chứ không phải là giá trị phương tiện của nó (Ryan and Deci, 2000).
Động lực bên ngoài đã được nghiên cứu rộng rãi trong lĩnh vực tâm lý học. Động lực bên ngoài phát triển trong suốt cuộc đời doanh nhân và nó có thể dẫn đến nhu cầu tự làm chủ (Jayawarna và cộng sự, 2011). Nghiên cứu về động lực đã tách các yếu tố tạo nên hiện tượng này thành yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Khi doanh nhân trải qua cuộc sống, có một số mối quan hệ giữa động lực bên trong và các hiệu ứng từ môi trường bên ngoài (Jayawarna và cộng sự, 2011).