Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, thông qua nêu các bước cũng như cách thức để kiểm định thang đo và mô hình đã đưa. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu, bao gồm việc đánh giá kết quả kiểm định, phân tích dữ liệu và nhận xét cho những giả thuyết nghiên cứu đã nêu.
Chương 5: Kết luận và một số hàm ý, thông qua việc tóm tắt những kết quả chính, những đóng góp và hạn chế của đề tài để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.1 Các khái niệm về hành vi khách hàng 2.1 Khách hàng Theo Dale, Carol, Glen và Marry (1999) định nghĩa: “Khách hàng là người mua một sản phẩm hay dịch vụ”. Có hai loại khách hàng: khách hàng bên ngoài và khách hàng bên trong. Khách hàng bên ngoài là những người tồn tại bên ngoài của tổ chức có quan hệ làm ăn và mua các sản phẩm hay dịch vụ của tổ chức (doanh nghiêp, cơ quan.
Khách hàng bên trong cũng có vai trò quan trọng. Mỗi bộ phận chức năng như bộ phận kỹ thuật, bộ phận sản xuất…là những khách hàng nội bộ. Mỗi bộ phận sản phẩm hay dịch vụ từ bộ phận này cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho bộ phận kia. Mỗi người trong quá trình là khách hàng của sự vận hành trước đó.
Mục tiêu của mỗi nhân viên là đảm bảo chất lượng công việc, đáp ứng sự mong đợi của người kế tiếp.2 Sản phẩm Thuật ngữ sản phẩm ở đây được hiểu là cả hàng hóa lẫn dịch vụ. Sản phẩm là bất cứ thứ gì có thể đem chào bán để thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn. Ý nghĩa quan tro ̣ng của sản phẩm vật chất bắt nguồn không phải từ việc sở hữu chúng , mà chính là từ việc có được những tiện ích mà chúng mang lại. Ta mua một chiếc xe không phải để ngắm nhìn mà vì nó giúp ta vận chuyển.
Ta mua một cái bếp không phải để chiêm ngưỡng mà chủ yếu để nấu nướng. Tiện ích ở đây không chỉ là những tính chất vật lý mà còn gồm cả giá trị và biểu tượng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.3 Hành vi người tiêu dùng Theo James F. Miniard trong Customer Behaviour (1990): “Hành vi người tiêu dùng liên quan đến các hoạt động, tiến trình ra quyết định của người mua sản phẩm và dịch vụ cho chi tiêu cá nhân”. Bennett trong Dictionary of Marketing Terms (1995): “Hành vi mua sắm của người tiêu dùng là tương tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi, và môi trường mà loài người ứng xử trước những thay đổi trong đời sống của họ”.
Nhìn chung, về mặt ý nghĩa, dưới góc độ tâm lý – xã hội, hành vi tiêu dùng một sản phẩm không đơn thuần là sự cảm nhận đối với các yếu tố lý hóa hay chức năng tiện ích của sản phẩm mà còn là phương tiện để nói lên hình ảnh cái tôi khẳng định sự tự nhận thức của bản thân khách hàng.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng Theo Philip Kotler (Nguyên lý marketing, 2012), việc mua sắm của người tiêu dùng chịu tác động mạnh mẽ của các yếu tố văn hoá, xã hội, cá nhân và tâm lý. Đa số những yếu tố này đều không kiểm soát được có tác động mạnh mẽ đến hành vi của họ. - Yếu tố văn hoá: Philip Kotler (Nguyên lý marketing, 2012) cho rằng “Các yếu tố văn hóa có tác động rộng rãi nhất và sâu xa nhất đến hành vi của người tiêu dùng, bao gồm: văn hóa, tiểu văn hóa (hay văn hóa trong văn hóa) và tầng lớp xã hội đối với người tiêu dùng”, nó bao gồm những giá trị, nhận thức, thị hiếu, cách ứng xử cơ bản mà người ta học được từ gia đình và những định chế quan yếu khác. Những người thuộc về những văn hóa, tiểu văn hóa, nhóm quốc tịch , tôn giáo và nhóm địa l ý khác nhau sẽ có những giá trị, phong cách sống và sở thích khác nhau về tiêu dùng sản phẩm.
- Các yếu tố xã hội: Những nhóm tham khảo của một người gồm gia đình, bạn hữu, các tổ chức xã hội và các tổ chức nghề nghiệp có tác động mạnh mẽ đến những sự lựa chọn sản phẩm và hiệu hàng. Điều này khẳng định vai trò và địa vị của họ trong xã hội. - Các yếu tố cá nhân: Tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ, hoàn cảnh kinh tế, phong cách sống, cá tính và những đặc tính riêng tư khác đều có ảnh hưởng đến các quyết định sử dụng sản phẩm hay dịch vụ. Giới trẻ có những nhu cầu và ước muốn 7 khác với người lớn tuổi, người có thu nhập cao sẽ có hành vi mua hàng khác với những người phải chi tiêu tằn tiện… - Các yếu tố tâm lý: Hành vi của người mua còn chịu sự tác động của các yếu tố tâm lý quan trọng, đó là động cơ, nhận thức, kinh nghiệm, niềm tin và thái độ.
Mỗi yếu tố này đều cung cấp một triển vọng để hiểu được những điều đang diễn ra trong suy nghĩ của người mua.2 Ý định mua sắm của ngƣời tiêu dùng 2.1 Quá trình thông qua quyết định mua sắm Theo Philip Kotler (Quản trị Marketing, 2000, tr.220-229), quá trình thông qua quyết định mua sắm của người tiêu dùng diễn ra qua các giai đoạn sau đây: ĐÁNH GIÁ HÀNH VI Ý THỨC TÌM KIẾM QUYẾT PHƯƠNG SAU KHI NHU CẦU THÔNG TIN ĐỊNH MUA ÁN MUA Hình 2.1: Mô hình năm giai đoạn quyết định mua sắm (Nguồn: Philip Kotler, Quản trị Marketing, 2000, tr. Nhận biết nhu cầu Quá trình mua sắm bắt đầu xảy ra khi người tiêu dùng ý thức được nhu cầu của chính họ do những kích thích bên trong và bên ngoài. - Kích thích bên trong là các nhu cầu thông thường của con người như đói, khát, yêu, thích, được ngưỡng mộ.Chẳng hạn, một người cảm thấy đói thì muốn ăn, cảm thấy khát thì muốn uống, cảm thấy nóng nực thì muốn đi bơi. - Kích thích bên ngoài như thời gian, sự thay đổi do hoàn cảnh, môi trường, đặc tính của người tiêu dùng, những chi phối có tính chất xã hội như: văn 8 hóa, giới tham khảo, những yêu cầu tương xứng với các đặc điểm cá nhân, những kích thích tiếp thị của những người làm marketing… b.
Tìm kiếm thông tin Khi nhu cầu đủ mạnh sẽ hình thành động cơ thúc đẩy người tiêu dùng tìm kiếm thông tin để hiểu biết về sản phẩm. Quá trình tìm kiếm thông tin có thể “ở bên trong” hoặc “ở bên ngoài”. Các nguồn thông tin người tiêu dùng sử dụng để tìm hiểu sản phẩm tùy thuộc vào sản phẩm muốn mua và các đặc tính của người mua. Có thể phân chia các nguồn thông tin của người tiêu dùng thành bốn nhóm: - Cá nhân: những thông tin từ gia đình, bạn bè, người quen, hàng xóm.
- Thương mại: thông tin nhận từ quảng cáo, người bán hàng, ghi trên bao bì, tại hội chợ, triển lãm. - Công cộng: thông tin khách quan trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan chức năng của chính phủ, các tổ chức. - Kinh nghiệm: qua tìm hiểu trực tiếp như tiếp xúc, dùng thử. Mỗi nguồn thông tin đảm nhận vai trò và có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng.
Đánh giá các phương án Trước khi đưa ra quyết định mua sắm, người tiêu dùng xử lý thông tin thu được rồi đưa ra đánh giá các nhãn hiệu cạnh tranh thông qua nguyên tắc và trình tự sau đây: Thứ nhất, người tiêu dùng coi mỗi một sản phẩm bao gồm một tập hợp các thuộc tính được gán cho một chức năng hữu ích mà sản phẩm đó có thể đem lại sự thỏa mãn cho người tiêu dùng. Thuộc tính của sản phẩm thể hiện qua các mặt: - Đặc tính kỹ thuật (lý hóa): công thức, thành phần, màu sắc, cỡ, khổ. - Đặc tính sử dụng: thời gian sử dụng, độ bền, tính đặc thù. - Đặc tính tâm lý: đẹp, sang trọng, cá tính, thoải mái, lòng tự hào khi sở hữu.
- Đặc tính kết hợp: giá cả, nhãn hiệu, đóng gói. 9 Thứ hai, người tiêu dùng có khuynh hướng phân loại các thuộc tính theo mức độ quan trọng khác nhau dựa trên nhu cầu cần được thỏa mãn của họ. Thứ ba, người tiêu dùng cho khuynh hướng xây dựng cho mình một tập hợp những niềm tin vào các nhãn hiệu làm cơ sở để đánh giá các thuộc tính của sản phẩm. Xu hướng lựa chọn của người tiêu dùng là họ sẽ chọn mua nhãn hiệu hàng hóa nào có thể đem lại cho họ sự thỏa mãn từ các thuộc tính của sản phẩm mà họ quan tâm là tối đa.
Tuy nhiên, kết quả đánh giá này phụ thuộc vào tâm lý, điều kiện kinh tế và bối cảnh cụ thể diễn ra hành vi mua sắm của người tiêu dùng. Vì vậy, nhiệm vụ của những người làm marketing là phải hiểu được người tiêu dùng đánh giá như thế nào đối với các nhãn hiệu để thay đổi, thiết kế lại sản phẩm của công ty có những đặc tính mà người tiêu dùng ưa chuộng, khắc họa làm người mua chú ý hơn đến những đặc tính mà sản phẩm mình có ưu thế, thay đổi niềm tin của người tiêu dùng về những đặc tính quan trọng của sản phẩm mà họ đánh giá sai. Quyết định mua sắm Sau khi đánh giá, ý định mua sắm sẽ được hình thành đối với nhãn hiệu nhận được điểm đánh giá cao nhất và đi đến quyết định mua sắm. Tuy nhiên, theo Philip Kotler có hai yếu tố có thể xen vào trước khi người tiêu dùng đưa ra quyết định mua sắm như sau: NHỮNG YẾU TỐ TÌNH HUỐNG BẤT NGỜ ĐÁNH GIÁ Ý ĐỊNH MUA QUYẾT ĐỊNH CÁC LỰA HÀNG MUA SẮM CHỌN THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI KHÁC Hình 2.2: Các bước đánh giá các phương án đến quyết định mua sắm (Nguồn: Philip Kotler, Quản trị Marketing, 2000, tr.225) 10 Nhân tố thứ nhất là thái độ của người thân, bạn bè, đồng nghiệp ủng hộ, hay phản đối.
Tùy thuộc vào cường độ và chiều hướng của thái độ ủng hộ hay phản đối của những người này mà người tiêu dùng đưa ra quyết định hay từ bỏ ý định mua sắm. Nhân tố thứ hai là những yếu tố tình huống bất ngờ. Người tiêu dùng hình thành ý định mua hàng dựa trên những cơ sở nhất định như dự kiến về thu nhập, giá cả, lợi ích kỳ vọng, mức độ rủi ro.