chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan về đề tài và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững tại khu vực Thất Sơn, tỉnh An Giang. Đưa ra cái nhìn khái quát về nội dụng đề tài và phương pháp nghiên cứu. Bố cục đề tài được chia thành 5 chương. Tiếp theo chương 2 sẽ trình bày các khái niệm về cơ sở lý thuyết và đưa ra mô hình đề xuất.
5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 2.1 Khái quát về du lịch bền vững 2.1 Một số khái niệm liên quan đến du lịch Theo Luật du lịch Việt Nam (2017) Du lịch là những hoạt động có liên quan đến việc di chuyển của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, tham quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến. Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch. Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch.
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa. Khu du lịch là khu vực có ưu thế về tài nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tỉnh và khu du lịch quốc gia. Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch.2 Nguyên tắc phát triển du lịch Theo Luật du lịch Việt Nam (2017) Phát triển du lịch bền vững, theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm.
Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tài nguyên thiên nhiên, khai thác lợi thế của từng địa phương và tăng cường liên kết vùng. 6 Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch. Phát triển đồng thời du lịch nội địa và du lịch quốc tế; tôn trọng và đối xử bình đẳng đối với khách du lịch.3 Phát triển du lịch bền vững Theo IUCN-UNEP-WWF (1980) Phát triển du lịch bền vững, không chỉ tập trung vào phát triển về mọi mặt của hiện tại, nhưng cũng đảm bảo phát triển không ngừng trong tương lai.
Mỗi quốc gia dựa vào về kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý và đặc trưng văn hóa để phát triển bền vững phù hợp chiến lược phát triển. Phát triển bền vững phải có tính đến hiện trạng khai thác năng lượng tái tạo và tài nguyên không tái tạo, với điều kiện thuận lợi lợi ích và khó khăn trong việc tổ chức ngắn hạn và dài hạn kế hoạch hành động hạn Machado (2003) cho rằng du lịch bền vững là một hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành công nghiệp du lịch và các cộng đồng chủ nhà ngày nay mà không có làm ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu cá nhân. Du lịch có hiệu quả kinh tế, nhưng không phá hủy các nguồn tài nguyên mà tương lai của du lịch sẽ phụ thuộc về, đặc biệt là môi trường vật chất và cấu trúc xã hội của cộng đồng chủ nhà. Pham và Khin (2015) cho rằng phát triển bền vững cho du lịch đã được nhận thức khác với các quan điểm khác nhau, gây ấn tượng về nhu cầu đạt được sự cân bằng giữa khía cạnh kinh tế và môi trường để đảm bảo tính lâu dài của du lịch Theo Creaco và cộng sự (2003) đã định nghĩa rằng phát triển bền vững đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của những thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của họ.4 Nguyên tắc phát triển bền vững Theo Luật du lịch Việt Nam (2017) 7 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống dân cư chính là nguyên tắc vô cùng quan trọng trong phát triển bền vững đảm bảo rằng sự phát triển hiện tại không tổn hại đến bất kì cá nhân, tổ chức hay quốc gia nào cả những thế hệ tương lai.
Nâng cao chất lượng cuộc sống bằng cách xây dựng cuộc sống lành mạnh, một nền giáo dục tốt, đủ tài nguyên, tự do bình đẳng, được đảm bảo an toàn và không bạo lực xảy ra. Bảo vệ sức sống và sự đa dạng sinh học thông qua sự phát triển song hành giữa bảo tồn chức năng và tính đa dạng của các hệ sinh thái, bảo vệ an toàn tất cả các loại động, thực và vi sinh vật. Hạn chế đến mức thấp nhất trong việc làm suy giảm các nguồn tài nguyên không tái tạo. Tài nguyên không tái tạo có nguy cơ bị cạn kiệt trong khi con người chưa tìm được các loại thay thế, cần phải sử dụng một cách hợp lý và tiết kiệm.
Giữ vững trong khả năng chịu đựng: Mỗi hệ sinh thái đều có một mức độ chịu đựng và giới hạn nhất định. Sự bền vững sẽ không có được nếu dân số thế giới ngày càng tăng làm nhu cầu sử dụng các nguồn tài nguyên ngày càng lớn vượt quá khả năng chịu đựng. Thay đổi thái độ và hành vi của con người: Sự tàn phá của con người gây ra những ảnh hưởng đến thiên nhiên dẫn đến các thiên tai. Do đó, con người cần phải thay đổi ngay thái độ và hành vi của mình, không chỉ là cách sử dụng bền vững nguồn tài nguyên mà còn để thay đổi các chính sách hỗ trợ về kinh tế.
Để cho các cộng đồng dân cư tự quản lý môi trường: Môi trường là ngôi nhà chung. Vì vậy xây dựng một cuộc sống bền vững phụ thuộc vào niềm tin và sự đóng góp của mỗi cá nhân. Một cộng đồng dân cư muốn được sống bền vững, thì đầu tiên cần quan tâm đến cuộc sống của bản thân cũng như không ảnh hưởng đến môi trường của cộng đồng dân cư khác. Con người cần phải sử dụng tài nguyên của mình một cách hợp lí, có kế hoạch và có ý thức về việc thải các chất thải độc hại và xử lý một cách an toàn.
Họ phải tìm cách bảo vệ hệ thống nuôi dưỡng sự sống và tính đa dạng của hệ sinh thái ở địa phương. 8 Xây dựng một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho sự phát triển và bảo vệ: Một cộng đồng, quốc gia muốn phát triển bền vững thì phải biết kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, phải xây dựng được sự đồng nhất trong các cộng đồng và hệ thống luật pháp hợp lí. Xây dựng một khối liên minh toàn cầu trong việc bảo vệ môi trường: Sự bền vững trong mỗi nước luôn phải phụ thuộc vào các hiệp ước quốc tế để quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên quan trọng. Các quốc gia cần tham gia ký kết và thực hiện các công ước đa dạng sinh học, công ước bảo vệ tầng OZON, CITES, công ước RAMSA, công ước luật biển… 2.5 Mục tiêu cơ bản của phát triển du lịch bền vững Theo Luật du lịch Việt Nam (2017) Hiệu quả kinh tế: Đảm bảo tính hiệu quả kinh tế và khả năng phát triển phồn thịnh và lâu dài.
Phát triển cho địa phương: Gia tăng sự đóng góp của du khách cho nền kinh tế địa phương tại các điểm du lịch, khu du lịch. Tạo ra việc làm và nâng cao mức thu nhập: Gia tăng số lượng việc làm do ngành du lịch tạo ra và tránh xảy ra tình trạng bất bình đẳng giới. Công bằng xã hội: Cần có sự phân phối hợp lí lợi ích kinh tế một cách công bằng cho tất cả những người trong cộng đồng du lịch. Đáp ứng sự thỏa mãn của khách du lịch: Cung cấp những dịch vụ an toàn, chất lượng thỏa mãn nhu cầu của du khách.
Nâng cao vai trò chức năng của đơn vị tổ chức du lịch: Trao quyền cho cộng đồng địa phương, có các kế hoạch phát triển du lịch. An sinh xã hội: Duy trì và tăng cường chất lượng cuộc sống của người dân địa phương, hỗ trợ đời sống, tránh làm suy thoái và khai thác quá mức môi trường. Bảo tồn các giá trị văn hóa: bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa dân tộc, truyền thống và những bản sắc đặc biệt của cộng đồng dân cư địa phương tại các điểm du lịch. 9 Bảo vệ tự nhiên: Bảo vệ cảnh vật tự nhiên, tránh tình trạng phá hoại để môi trường xuống cấp.
Sử dụng hiệu quả các nguồn lực: Giảm thiểu mức sử dụng những nguồn tài nguyên không thể tái tạo được trong việc phát triển du lịch. Bảo vệ môi trường: Giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước, đất và rác thải từ khách du lịch.2 Mô hình phát triển bền vững Theo Jacobs và Sedlera (1990) thì phát triển bển vững là sự tương tác lẫn nhau giữa ba hệ thống chủ yếu: Hệ thống kinh tế (hệ sản xuất và phân phối sản phẩm); hệ thống xã hội (quan hệ của con người trong xã hội); hệ thống tự nhiên (bao gồm các hệ sinh thái tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các thành phần môi trường của Trái Đất). Trong mô hình này, sự phát triển bền vững không cho phép ưu tiên bất cứ hệ nào vì dễ gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với hệ khác. Nói cách khác phát triển bển vững là sự dung hoà và thoả hiệp giữa ba hệ thống chủ yếu.
Hệ xã hội Hệ kinh tế Phát triển bền vững Hệ môi trường Hình 2. 1: Mô hình phát triển bền vững của Jacobs và Sadler Nguồn Jacobs và Sadler (1990) Phát triển bền vững là sự giao thoa của ba hệ. Nếu thiếu bất kì yếu tố thì không thể gọi là phát triển bền vững. Tuy các yếu tố này phụ thuộc vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau đồng thời cạnh tranh với nhau.