Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE CÁC YEU TO ANH HUONG LỰA CHỌN VIỆC LAM TRAI NGÀNH SAU TOT NGHIỆP CUA SINH VIEN 1. Cơ sở lý luận về các yếu tố ánh hưởng lựa chọn việc làm trái ngành sau tốt nghiệp của sinh viên 1. Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm về sự không phù hợp công việc Sự không phù hợp trong công việc được định nghĩa là khi một người lao động trong một công việc không tìm được sự phù hợp với trình độ học vấn, kinh nghiệm, kỹ năng hoặc sở thích của bản thân.
Việc này gây ra nhiều tác động trái chiều lên nền kinh tế và xã hội bao gồm việc hao hụt kỹ năng, hao hụt năng suất lao động, không thoả mãn trong công việc, không đảm bảo thu nhập và các vấn đề đi kèm với công đoàn lao động (Graham & Graham, 2013). Khái niệm về sự không phù hợp công việc chỉ một hiện tượng phức tạp không chi ảnh hưởng đến lực lượng lao động mà nó còn tạo ra những tác động đa dạng lên hiệu suất công việc, tiền lương, vốn nhân lực, cạnh tranh và phát triển (Bergin và cộng sự, 2019). Sự không phù hợp công việc cũng được xem như là một sự de doa trong thời ky công nghiệp lần thứ tư, được đặc trưng bởi tiến bộ công nghệ nhanh chóng, tăng trưởng kinh tế trì trệ, mức sinh thấp và xã hội càng ngày càng già hoá (Dabla-Norris và cộng sự, 2015; International Monetary Fund, 2013). Sự không phù hợp trong công việc cũng chỉ ra ý kiến rằng việc những người thất nghiệp sẽ càng ngày càng khó tìm việc nếu kỹ năng và tính cách cá nhân có sự phù hợp ít đối với yêu cầu của các công việc có sẵn trên thị trường lao động (Smith, 2012).
Ké từ năm 1990, dưới sự cải cách và đổi mới sáng tạo trong ngành Giáo dục, số lượng học sinh, sinh viên đã gia tăng đáng kể, việc này dẫn đến số lượng gia tăng đột biến về số lượng sinh viên tốt nghiệp trên thị trường lao động. Từ đây cũng dẫn đến các phát sinh 15 trong thi trường lao động khi mà sinh viên không tim được việc làm phù hợp với bản thân. Khái niệm sự không phù hợp công việc theo chiều đọc (vertical mismatch) Sự không phù hợp công việc theo chiều dọc (vertical mismatch) — làm việc trái trình độ, là sự khác biệt giữa trình độ chuyên môn cao. nhất của một người lao khi đem so sánh với trình độ chuyên môn mà công việc đòi hỏi.
Một người được xem là làm việc thấp hơn trình độ nếu trình độ nếu trình độ học vấn của họ cao hơn so với trình độ mà công việc hiện tại yêu cầu. Ngược lại, một người được xem là làm việc cao hơn trình độ, nếu mức trình độ học van của người lao động đó không đáp ứng được mức trình độ làm việc chung mà công việc đòi hỏi (Graham & Graham, 2013). Đối với việc lựa chọn làm một công việc thấp hơn trình độ học vấn mà bản thân đạt được, đây là tín hiệu phản ánh sự mất cân bằng hoặc kém hiệu quả trong thị trường lao động khi mà người lao động không thê tìm được việc làm tận dụng tối đa khả năng lao động của họ. Khái niệm sự không phù hợp công việc theo chiều ngang (horizontal mismatch) Đánh giá về sự không phù hop trong công việc thì đã chi ra được su không phù hợp trong công việc theo chiều ngang (horizontal mismatch) - nghĩa là làm việc trái ngành nghề xảy ra khi có sự khác biệt giữa ngành học và công việc đi làm hiện tại (Nordin và cộng sự, 2010).
Định nghĩa trên không tính những bằng cấp đạt được ngoài bằng cấp hoàn thành từ chương trình giáo dục chính thức. Định nghĩa khác của sự không phù hợp theo chiều ngang xem xét bằng cấp của người lao động cần cho công việc hiện tại có phù hợp với bằng cấp người này có tại thời điểm đó hay không. Bằng cấp có được hiện tại không chỉ từ giáo dục chính thức mà có 16 thể từ việc học trong cuộc sống thông qua một số khoá học không được công nhận và từ huấn luyện không chính thức thông qua công việc. Ngược lại, kỹ năng học được ở trường và ở nơi khác có thể giảm sút theo thời gian.
Đối với nghiên cứu này, tác giả tập trung vào việc đánh giá về sự không phù hợp trong công việc theo chiều ngang - làm việc trái ngành nghề so với chuyên ngành được đào tạo đối với lựa chọn của sinh viên trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn việc làm sau tốt nghiệp của sinh viên Với xu hướng gia tăng nhân lực sau đại học của Việt Nam trong các năm tới, nhiều vị trí công việc chỉ đòi hỏi một lượng lao động nhất định, gây ra việc dư thừa lao động trong ngành nghề đó. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra xu hướng chọn việc làm trong thời gian gần đây, đặc biệt là thời gian sau đại dich COVID-19, lan sóng sa thải và dịch chuyển việc làm có nhiêu biên động, ảnh hưởng đên lựa chọn việc làm của sinh viên. Yếu tố thu nhập ảnh hưởng đến lựa chọn việc làm trái ngành sau tốt nghiệp của sinh viên Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc làm trái ngành có tác động đến thu nhập của người lao động (Tran Quang Tuyen và cộng sự, 2023).
Mức thu nhập của những người lao động chưa được lao động trong vị trí việc làm đó thấp hơn so với những người lao động có học vấn và kỹ năng được đào tạo cho công việc đó (Iriondo & Pérez-Amaral, 2016). Mức thu nhập thấp hơn một phần do năng suất lao động của những lao động thiếu kỹ năng trong công việc so với những lao động khác. Khi làm một công việc không được đào tạo theo đúng chuyên môn cũng đồng nghĩa với việc người lao động thiếu hụt kỹ năng trong công việc, dẫn đến sự thoả mãn trong công việc bị giảm sút, kéo theo năng suất lao động bị giảm sút (de Castro và cộng sự, 2015). Yếu tố sở thích cá nhân đối với nghề nghiệp ánh hưởng đến lựa chọn việc làm trái ngành sau tốt nghiệp của sinh viên Việc đưa ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp cũng là một khía cạnh quan trọng của mỗi cá nhân.
Một vài nghiên cứu thực hiện đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa sở thích cá nhân với lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai của sinh viên sau tốt nghiệp (Afzal Humayon và cộng sự, 2018). Suutari (2003) đánh giá thông qua nghiên cứu đã chỉ ra được có mối quan hệ mật thiết giữa sở thích trong quá trình ra quyết định việc làm. Ngoài ra, sở thích cá nhân được xem như là một yếu tố chính ảnh hưởng lựa chọn việc làm của sinh viên (Edwards & Quinter, 2011). Yếu tố cơ hội việc làm trong tương lai anh hướng đến lựa chọn việc làm trái ngành sau tốt nghiệp của sinh viên Ảnh hưởng đến lựa chọn việc làm trái ngành còn một phần đến từ cơ hội việc làm trong tương lai.
80% người được khảo sát trong một nghiên cứu của Koech và cộng sự (2016) cho biết các yếu tố mang lại lợi ích trong nghề nghiệp bao gồm cơ hội việc làm sẵn có là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến việc lựa chọn việc làm. Schultheiss và cộng sự (2023) cũng chỉ ra được những tác động của việc nâng cao chất lượng giáo dục và cơ hội việc làm tương lai cho lao động trình độ cao trong giai đoạn thay đổi liên tục của các chương trình đào tạo. Yếu tố giới tính ảnh hướng đến lựa chọn việc làm trái ngành sau tốt nghiệp của sinh viên Giới tính là một trong những yếu tố cho thấy sự khác biệt trong lựa chọn làm việc trái ngành. Trong đó, việc lựa chọn làm việc trái ngành và trái trình độ sẽ thường xảy ra với lao động nam hơn so với lao động nữ (Choi & Hur, 2020).
Ngược lại với quan điểm trên, Takeuchi (2023) lại đưa ra những bằng chứng nghiên cứu cho thay rằng làm việc trái ngành thường phổ biến hơn ở lao động nữ và thường không xuất hiện bat lợi nào đáng kể với những người sở hữu bằng đại học. Các nghiên cứu trước đó tập trung vào 18 việc làm việc trái ngành đào tạo trên hai đối tượng chính là lương và thu nhập của người lao động. Bender & Roche (2013) đã chỉ ra được những bắt lợi trong việc làm trái ngành đối với những người lao động dựa trên khu vực việc làm là tự tạo việc làm, bên cạnh đó cũng làm rõ hơn việc làm trái ngành trong khu vực làm việc dựa trên giới tính. Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ giới hạn trong lĩnh vực khoa học và kỹ sư, mà không phải là lĩnh vực kinh tế.
Yếu tố chương trình đào tạo ảnh hướng đến lựa chọn việc làm trái ngành sau tốt nghiệp của sinh viên Tran (2022) đã chỉ ra trong nghiên cứu rằng các đặc điểm của một chương trình và nội dung mà chương trình đào tạo đại học cung cấp có ảnh hưởng tích cực đến lựa chọn việc làm trái ngành của một cá nhân. Trong đó, tuỳ theo mức độ khái quát hay cụ thể của chương trình đào tạo mà sinh viên sẽ có xu hướng chọn việc làm phụ thuộc vào đặc tính này. Chương trình đào tạo có nội dung khái quát càng cao, tỷ lệ người lao động, lựa chọn làm việc liên quan đến ngành nghề càng lớn. Các lý thuyết liên quan đến làm việc trái ngành 1.
Lý thuyết cạnh tranh công việc (Job Competition Theory) của Thurow (1975) Trong mô hình cạnh tranh công việc của Thurow dé xuất sự xuất hiện hai hang chờ: Hàng chờ lao động và hàng chờ công việc. Với một công việc, tuỳ thuộc vào độ khó, đặc điểm và yêu cầu chuyên biệt của từng công việc, công việc đó sẽ được xếp hang theo thứ tự. Từ đó, với hàng chờ lao động, vị trí của người lao động sẽ phụ thuộc vào trình độ học vấn và kỹ năng so sánh với những lao động khác. Một người lao động muốn gia tăng “thứ tự” trong hàng chờ lao động sẽ buộc phải tự nâng cao kiến thức, kinh nghiệm hoặc kỹ năng trong công việc.
Do đó, đây là động cơ để các lao động đầu tư nhiều hơn về giáo dục để có thể có một công việc tốt hơn. Tuy 19 nhiên, nếu hàng chờ công việc không có vị trí phù hợp với trình độ học vấn của người lao động, người lao động cũng sẽ buộc phải lựa chọn một công việc có trình độ thấp hơn và các mức kỳ vọng về lợi ích trong công việc cũng thấp hơn so với vị trí công việc mong.