mở đầu của đề tài nghiên cứu. Chương này trình bày sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu qua tổng quan ngắn gọn về các nghiên cứu trước đây. Phương pháp tiến hành nghiên cứu, vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và kết cấu của báo cáo cũng được trình bày. Chương 2: Cơ sở lý thuyết.
Chương này trình bày, tổng hợp, hệ thống các lý thuyết nền và các khái niệm nghiên cứu. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết được thiết lập và áp dụng cho nghiên cứu, trình bày các khái niệm liên quan đến tài nghiên cứu, các nghiên cứu trước có liên quan, các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu mới. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Trình bày thông tin về phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thu thập dữ liệu, kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu được sử dụng.
SVTH: Lâm Quốc Bảo 9 GVHD: Phạm Minh Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này trình bày, tổng hợp, hệ thống các lý thuyết nền và các khái niệm nghiên cứu. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết được thiết lập và áp dụng cho nghiên cứu. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng các hàm ý quản trị và các giải pháp tại chương 5.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Đưa ra các kết luận, xây dựng hàm ý quản trị và đề xuất các giải pháp. Cuối cùng là chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu và nội dung nghiên cứu cho tương lai. CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT.1 Thuyết nhận thức nghề nghiệp xã hội- Social Cognitive Career Theory - Lent và cs (1994) Các lý thuyết tâm lý về lựa chọn nghề nghiệp nhấn mạnh các đặc điểm của cá nhân trong quá trình ra quyết định, trong đó, SCCT là lý thuyết quan trọng nhất, đã được công nhận là một lý thuyết phức tạp và được áp dụng nghiên cứu sâu rộng về lựa chọn nghề nghiệp (Wong và Liu, 2010).
Được phát triển vào năm 1994 bởi Lent và cộng sự, đến nay, SCCT đã được áp dụng vô cùng rộng rãi trong lĩnh vực hành vi nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực khác như khởi nghiệp, xã hội học, hay công tác xã hội (Sheu và cộng sự, 2010; Lent và cộng sự, 2010; Raque và Lucas,2016; Byram và cộng sự, 2021). Được phát triển dựa trên Thuyết Nhận thức xã hội của Bandura (1986a), SCCT lập luận rằng Niềm tin vào năng lực bản thân (Self-efficacy) và Kỳ vọng vào kết quả (Outcome Expectation) là yếu tố quyết định hành vi của cá nhân. Trong đó, Niềm tin vào năng lực bản thân là sự đánh giá tích cực hay tiêu cực của cá nhân vào khả năng thực hiện hành vi, và Kỳ vọng kết quả là sự mong đợi của cá nhân về kết quả mà hành vi mang lại (Lent và cộng sự, 2017). Theo thuyết này, Niềm tin vào năng lực bản thân và Kỳ vọng kết quả có tác động trực tiếp lẫn gián tiếp đến ý định và hành vi lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân (Lent và cs, 1994).
SVTH: Lâm Quốc Bảo 10 GVHD: Phạm Minh Hình 1. Mô hình tự quản nghề nghiệp - Lent và cộng sự (1994) SCCT xây dựng và phát triển mô hình tự quản nghề nghiệp nhằm sự bổ sung cho các mô hình trước (Lent và cs, 2013), tiêu biểu là Thuyết hành vi kế hoạch của Azjen (1991), vì các mô hình nghề nghiệp truyền thống thường xem yếu tố môi trường chỉ là bối cảnh thực hiện hành vi, trong khi đó, SCCT nhấn mạnh đến tình huống và bản chất cụ thể của hành vi. Mô hình nhấn mạnh vào các biến nhận thức của con người ( niềm tin vào năng lực bản thân, kỳ vọng kết quả) và về cách các biến này tương tác với các biến môi trường hoặc bối cảnh (Lent và cs, 1999; Wong và Liu, 2010), cụ thể hơn, nó xem xét sự tương tác giữa bản thân và môi trường trong trạng thái “động”, tức là mối quan hệ giữa môi trường và cá nhân có sự thay đổi theo thời gian mà không phải ở dạng “tĩnh” như một số mô hình trước đó (Ví dụ: Vondracek và cộng sự, 1986). Từ khi được đề xuất, nhiều tác giả đã áp dụng khung lý thuyết SCCT và mô hình tự quản nghề nghiệp cho nghiên cứu của mình, tiêu biểu như King (2004), Lim và cs (2016), Lent và cs (2016, 2017), Kim và cs (2018), Wendling và Sagas (2020).
Thành công của các nghiên cứu kể trên là mình chứng rõ nhất cho sự phù hợp khi áp dụng lý thuyết SCCT trong nghiên cứu về hành vi nghề nghiệp. SVTH: Lâm Quốc Bảo 11 GVHD: Phạm Minh 2. Nghề nghiệp (Career) Về thuật ngữ “Career”, đầu tiên, Super (1980) định nghĩa đó là sự kết hợp các chuỗi vai trò của một người, hay Sears (1982) mô tả là “làm việc theo một khuôn mẫu sống có mục đích thông qua công việc do một người đảm nhận”. Đó là một quá trình học tập và làm việc suốt đời (Tien và cs, 2012), là một con đường có thể đoán trước, có tổ chức, ghi lại các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời làm việc của cá nhân (Fu và Chen, 2015).
Một quan điểm có liên quan khác là của Sullivan và Baruch (2009), họ định nghĩa thuật ngữ “career” là “kinh nghiệm và các trải nghiệm cả bên trong và bên ngoài tổ chức, có liên quan đến công việc của một cá nhân và tạo thành một khuôn mẫu duy nhất trong suốt cuộc đời của cá nhân”, “là một chuỗi các vị trí được một người đảm nhiệm trong suốt thời gian của cuộc đời” (Jung, 2014), là chuỗi kinh nghiệm làm việc trong các tổ chức (De Vos và cs, 2021). Theo đó, đối tượng sinh viên đã sở hữu những kinh nghiệm nhất định thông qua thực hiện các hành vi đầu tiên trong lựa chọn nghề nghiệp (Lent và công sự, 2013; Jiang và cộng sự; 2019), là cơ sở cho việc sở hữu những nhận thức ban đầu đối với “sự nghiệp”. Đây là tiền đề để nghiên cứu này mở rộng phạm vi các thuật ngữ khác nội hàm trong “career” như “job” hay “work” (Plomp và cs, 2016), “occupation” (Gabrielsson và Politis, 2011), “vocation” (Fu và Chen, 2015) nhằm tăng độ áp dụng thực tiễn của đề tài. Theo đó, Guan & Zhou (2020) đã định nghĩa nghề nghiệp là một tệp các hành động liên quan đến các trách nhiệm và hoạt động liên quan đến công việc trong suốt thời gian làm việc.
Ở một khía cạnh khác, theo quan điểm của Jensen và Kim (2020) thì nghề nghiệp là “sự thực hiện liên tiếp một tệp các công việc có liên quan, được sắp xếp theo trình tự” hay “vai trò của một người khi nắm giữ một chức vụ nào đó trong một khoảng thời gian và không gian nhất định” (Royeen, 2002). Lựa chọn nghề nghiệp.3 Hỗ trợ xã hội (Social Support). Mọi người đang sống trong một xã hội mà họ luôn có thể tạo ra ảnh hưởng cũng như bị ảnh hưởng (Lent & Brown, 2013), và SCCT tập trung vào cách một số biến nhận thức của con người tương tác với môi trường để giúp hình thành quá trình phát triển nghề nghiệp (Lent và cs, 2000). Các yếu tố khách quan từ môi trường có ảnh hưởng mạnh đến sự lựa chọn và phát triển nghề nghiệp mà không phụ thuộc vào khả năng nhận thức của cá nhân.
Tuy nhiên, theo Vondracek và cộng sự (1986), sự ảnh hưởng này là tích cực hay tiêu cực cũng phụ thuộc vào mức độ phản hồi của cá nhân đối với các yếu tố đó, cụ thể đã có nhiều nghiên cứu về rào cản xã hội ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn nghề nghiệp, nhưng hỗ trợ xã hội đóng vai trò tích cực trong hạn chế tác động của rào cản đến hành vi (Stumf và cs, 1983). Trong khuôn khổ SCCT, nhận thức hỗ trợ xã hội được định nghĩa là khả năng thích ứng theo ngữ cảnh giúp lựa chọn và phát triển nghề nghiệp (Gushue và Whitson, 2006c). Dựa theo quan điểm này, chúng tôi tiếp cận các ảnh hưởng từ SVTH: Lâm Quốc Bảo 13 GVHD: Phạm Minh môi trường dưới góc độ các nguồn lực hỗ trợ tích cực, chủ yếu là nguồn lực được kết nối hoặc hỗ trợ trực tiếp từ trường đại học, trong đó bao hàm sự hướng dẫn từ những người hướng dẫn/cố vấn (Brown và Lent, 1996), hay các hoạt động hỗ trợ định hướng nghề nghiệp khác. Với tiền đề rằng cá nhân có nhận thức và tiếp cận được với các nguồn lực đó, tránh xa hoặc hạn chế tiếp nhận ảnh hưởng từ các rào cản, yếu tố này hình thành nên “ hỗ trợ xã hội được nhận thức”.4 Niềm tin vào năng lực bản thân (Self - efficacy) Khả năng, hoặc năng lực, đóng vai trò quan trọng trong việc giúp xác định mức độ thành công của những nỗ lực thực hiện hành vi.
Mọi người có thường cố gắng và duy trì các hành vi khi họ tin rằng họ có những khả năng cần thiết để thực hiện chúng và nỗ lực đó sẽ tạo ra lợi ích mong muốn (Lent và Brown, 2013). Fuller và cộng sự (2018) giải thích Niềm tin vào năng lực bản thân là niềm tin cá nhân vào khả năng thực hiện và đạt được thành công trong một nhiệm vụ cụ thể, đề cập đến khả năng của một người để thực hiện các hành vi, ví dụ như hoàn thành các yêu cầu của một ngành học cụ thể, khả năng xác định chướng ngại vật, hay khả năng nhận thức của cá nhân để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể cần thiết cho việc lựa chọn nghề nghiệp (Lent và Brown, 2013). Niềm tin vào năng lực bản thân đề cập đến " sự đánh giá của mọi người về khả năng của họ trong việc tổ chức và thực hiện các hành động cần thiết để đạt được các loại hình biểu diễn được chỉ định" (Bandura, 1986b), tuy nhiên nó không không nhấn mạnh hoặc đồng nhất với kỹ năng mà là yếu tố chỉ ra mức độ hiệu quả của kỹ năng khi được áp dụng vào thực hiện hành vi (Liu và cộng sự, 2019; Lent và cộng sự, 1994). Niềm tin vào năng lực bản thân là yếu tố chỉ báo mạnh mẽ cho sự lựa chọn nghề nghiệp (Lent và cs,1994), và ngày càng có nhiều bằng chứng về một mối quan hệ tích cực của niềm tin năng lực bản thân và quyết định nghề nghiệp (Jiang và cs, 2019).
Từ khi được đề xuất tới nay, yếu tố này nhận được sự quan tâm nghiên cứu nhiều nhất so với các lĩnh vực chuẩn bị cho nghề nghiệp khác bởi vì nó là trọng tâm của kết SVTH: Lâm Quốc Bảo 14 GVHD: Phạm Minh quả sự nghiệp thành công (Choi & Kim, 2013). Những người có niềm tin vào năng lực bản thân cao trong quyết định nghề nghiệp có thể phát triển các kế hoạch nghề nghiệp một cách hiệu quả (Park và cộng sự, 2018).