Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 4: Giải pháp thúc đây các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên công ty Cổ phần 1x56 trong thời gian tới NOI DUNG Chuong 1 TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU, CO SO LY LUAN VE CAC YEU TO ANH HUONG DEN DONG LUC LAM VIEC CUA NGUOI LAO DONG 1. Tong quan tinh hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Huỳnh Van Dang (2018) nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc cua cán bộ công chức tại Cục công nghệ thông tin — Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” dựa trên mô hình JDI (Job Descriptive Index) cua Smith va cộng sự (1969), lý thuyết hai yếu tố của Herzberg, tham khảo mô hình của Giao Hà Quỳnh Uyên (2015) và Trần Văn Huynh (2016). Tác giả đã tiến hành phân tích định tính trên cơ sở phân tích dữ liệu đưa ra 6 yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ công chức tại Cục công nghệ thông tin — Ngan hang Nhà nước Việt Nam: Điều kiện làm việc, Quan hệ với cấp trên, Quan hệ với đồng nghiệp, Tiền lương công bằng và Thành tích công nhận.
Nguyễn Bạch Phương Thảo (2018) đánh giá “Một số yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại công ty TNHH MTV xổ số kiến thiết tỉnh Bà Rịa — Vũng Tàu”. Qua nghiên cứu định tinh và định lượng dựa trên 124 mẫu khảo sát, kết quả cho thấy các yếu tô tác động đến động lực của nhân viên tại đây bao gồm: Phúc lợi và tiền lương, sự giúp đỡ của lãnh đạo, phát triển và đào tạo, gắn bó với đông nghiệp và điêu kiện làm việc. Nguyễn Mạnh Cường (2017) đã có những phân tích về thực trạng, những mặt tích cực và tồn tại, đề xuất một số giải pháp góp phan cải thiện động lực làm việc của nhân viên tại công ty Kính nổi Viglacera. Tác giả tiến hành nghiên cứu định lượng phân tích thong kê mô tả đo lường mức độ ảnh hưởng của 3 nhân tố (Môi trường làm việc, Công nhận sự đóng góp cá nhân, Chính sách đãi ngộ) đến động lực làm việc của nhân viên tại công ty.
Kết quả cho thấy thực trạng động lực làm việc của nhân viên ở mức khá, các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên từ thấp đến cao lần lượt là Công nhận sự đóng góp cá nhân, Môi trường làm việc, Chính sách đãi ngộ. Lâm Sơn Tùng (2017) thực hiện nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động tại công ty Cổ phần Cơ khí Kiên Giang”. Nghiên cứu gồm6 nhân tố và lay mẫu khảo sát trên 198 lao động làm việc tại công ty. Kết quả cho thay 4/6 nhân tô ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động tại công ty: đặc điểm công viéc, điều kiện làm việc, lương và cơ hội thăng tiến, trong đó cơ hội thăng tiến là biến có ảnh hưởng lớn nhất tới động lực của người lao động.
Trần Văn Huynh (2016) nghiên cứu về “ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức tại Sở lao động — thương binh và xã hội tinh Nam Dinh” dựa trên lý thuyết hai yếu tố của Herzberg (yếu tố thúc đây và yếu tô duy trì) đã chỉ ra 4 yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của đội ngũ công chức tại đây. Trong đó có 3 yếu tố thuộc nhóm thúc đây bao gồm sự công nhận, bản thân công việc, cơ hội thăng tiến và 1 yếu tố thuộc nhóm duy trì là chế độ lương. Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài Le và cộng sự (2021) trong bài báo “Các yếu tô ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên” đã kết luận răng các biến độc lập như tiền lương — phúc lợi, điều kiện làm việc, tính chất công việc và kết quả công việc, đồng nghiệp và cấp trên có tác động mạnh mẽ đến động lực làm việc của nhân viên. Bawa (2017) trong bài viết của mình đã tìm thấy một số yếu tố thúc day: một số yếu tô tài chính và yếu tố phi tài chính.
Tác giả chỉ ra rằng việc trả lương, công nhận, thăng tiến là các yêu tố rất quan trọng dé tăng cường động lực. Các tổ chức học thuật bao gồm một số trường đại học đã lên kế hoạch, thực hiện và duy trì các chương trình công nhận nhân sự đề truyền cảm hứng cho sự hiệu quả và làm việc chăm chỉ. Uzonna (2013) đã kết luận trong bài báo của mình rằng sự công nhận là một biến động lực phi tiền tệ có tác động tích cực cao đến hiệu suất của nhân viên và được xếp hạng cao nhất. Tiếp theo là sự thăng tiến, nhiệm vụ đầy thách thức, an toàn công việc, trách nhiệm.
Berkson và cộng sự (2012) nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên và các yếu tố ảnh hưởng đến nó nhiều nhất đã kết luận răng mong muốn được tra lương cao hơn của nhân viên là một yếu tô thúc đây mạnh mẽ. Nghiên cứu chỉ ra cơ hội thăng tiễn cùng với các lợi ích dài hạn khác có ảnh hưởng tích cực đến hiệu qua của công ty. Theo các nhà nghiên cứu, một yếu tố tạo động lực cao là làm chủ công việc cũng như tiền lương và các ưu đãi tài chính khác. Một động lực mạnh mẽ khác là trao quyền hạn và trách nhiệm cho nhân viên.
Việc phân phối trách nhiệm, quyên lực, công bằng, bình đắng và kiểm soát cho nhân viên làm tăng năng suất của tổ chức. Sự công nhận và quyền tự chủ là những yếu tổ thúc đây quan trọng đôi với nhân viên. Nhân viên có thê được công nhận theo nhiêu cách ví dụ như biểu hiện lòng biết ơn khuyến khích nhân viên và các hoạt động xã hội. Khoảng trong nghiên cứu Động lực làm việc của nhân viên là đề tài đã được khá nhiều tác gia quan tâm nghiên cứu cả trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, vẫn còn một số khoảng trồng nghiên cứu như sau: Thứ nhất, các đề tài trước đó chủ yếu tập trung nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên ở các khu vực trọng điểm hoặc các doanh nghiệp lớn có lịch sử hoạt động lâu đời, chưa có tác giả nào nghiên cứu về một công ty trẻ, quy mô vừa và nhỏ như công ty Cô phan 1x56. Thứ hai, cũng bởi vì các nghiên cứu trước đó chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp lớn và lâu đời nên chỉ khảo sát người lao động làm việc ở các ngành nghề quen thuộc trên thị trường. Nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên làm việc trong lĩnh vực mới, cụ thé là dịch vu công nghệ và quảng cáo trên nền tảng internet chưa được phô biến. Bài nghiên cứu sẽ tập trung lấp đầy các khoảng trong nêu trên.
Cơ sở lý luận về động lực làm việc và các yếu tổ ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động 1. Các khái niệm Việc làm Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật việc làm 2013 thì định nghĩa Việc làm được quy định như sau: Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cắm. Từ đó có thể thấy rõ đưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: Là hoạt động lao động: thé hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dich vụ. Yếu té lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp.
Vì vậy người có việc làm thông thường phải là những người thé hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối 6n định. Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khản năng tạo ra thu nhập. Hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm. Tuy theo điều kiện kinh tế-xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm.
Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm. Người lao động Bộ luật lao động 2019 (Điều 3) quy định người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động.Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Người lao động là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc. Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia là quy định về kiến thức chuyên môn, năng lực thực hành và khả năng ứng dụng kiên thức, năng lực đó vào công việc 10 mà người lao động cần phải có dé thực hiện công việc theo từng bậc trình độ kỹ năng của từng nghề.
Động lực Động lực là một thuật ngữ rộng có nhiều cách định nghĩa. Nó là nguyên nhân bắt đầu, tiếp tục hoặc chấm dứt một hành vi tại một thời điểm cụ thể. Một hoc gia khác nhan manh rang “Động luc có thể được m6 tả là nhu cầu hoặc động cơ thúc đây một người thực hiện một số hành động hoặc hành vi. Động từ thúc đây có nghĩa là cung cấp ly do cho hành động” [8].
Ở một khía cạnh khác, Latham (2007) nói rằng “Thuật ngữ động lực là một nguồn gốc của từ tiếng Latinh có nghĩa là chuyên động, movere” [19]. Nói một cách đơn giản, động lực là quá trình truyền cảm hứng cho ai đó hướng tới một mục tiêu cụ thể và cam kết đạt được mục tiêu. Họ thấy thiếu những nhu cầu thiết yếu và cảm thấy cần phải làm việc chăm chỉ hơn. Một người được thúc đây thực hiện việc gì đó tốt hơn bình thường bởi nhu cầu thỏa mãn cái tôi của họ.
Động lực làm việc Đề nhân viên nỗ lực hết mình trong việc đạt được các mục tiêu của tô chức, động lực làm việc của nhân viên là một yếu tố quan trọng. Động lực tích cực sẽ làm tăng năng suất của nhân viên trong khi động lực tiêu cực thì ngược lại. Sự thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng truyền cảm hứng cho 11 luc lượng lao động.