Chương 1. Lý do lựa chọn chủ đề nghiên cứu Thị trường chứng khoán (TTCK) đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc huy động vốn cho nền kinh tế. TTCK giúp chính phủ huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả thông qua việc mua bán trái phiếu nhằm điều chỉnh sự tăng giảm của lãi suất thị trường. Với doanh nghiệp, TTCK là kênh thu hút lượng vốn bằng việc phát hành trái phiếu hay cổ phiếu, qua đó giúp làm tăng quy mô vốn hoạt động, tạo động lực cho việc áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ.
Tuy nhiên, song song với những bước phát trién mạnh mẽ và những thành tựu ấn tượng của thị trường, TTCK thế giới cũng đã từng trải qua nhiều biến động: như cơn hoảng loạn của thị trường năm 1907 khi chỉ số Dow Jones của Sở giao dịch chứng khoán New York giảm gần 50% so với mức đỉnh của năm trước, sự sụp đồ của Phố Wall năm 1929 trong cuộc Đại khủng hoảng hay vụ vỡ bong bóng dot-com năm 2000. Các sự kiện trên đều dé lại nỗi ám ảnh kinh hoàng cho giới đầu tư tài chính và tn thất to lớn cho TTCK cũng như nền kinh tế thế giới. Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán được ra đời năm 1998 với sự thành lập của Sở Giao dich Chứng khoán Hồ Chí Minh — HOSE. Ngày 28/07/2000 đánh dấu phiên giao dịch đầu tiên của thị trường chứng khoán Việt Nam, hai mã mã cô phiếu niêm yết là SAM (Công ty Cổ phan SAM Holdings) và REE (Công ty Cổ phan Cơ điện lạnh).
Ở thời điểm đó, có 2 phiên giao dịch mỗi tuần. Tiếp theo đó là sự ra đời của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội — HSX năm 2005 và sàn Upcom năm 2009. Đến năm 2012, chỉ số VN30 lần đầu tiên được ra mắt, đây là nhóm cô phiếu có giá trị vốn hóa lớn nhất trên sàn giao dich HOSE. Tính đến thời điểm cuối năm 2021 có tới 10 ngân hàng năm trong r6 VN30 bao gồm Ngân hàng TMCP Á Châu, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng TMCP Quân Đội, Ngân hàng TMCP Sai Gon Thương Tín, Ngân hang TMCP Kỹ thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Tiên Phong, Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng.
Điều này thé hiện mức vốn hóa lớn và tam quan trọng của cô phiếu lĩnh vực ngân hàng trên TTCK Việt Nam. Tính đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có hơn 20 năm hình thành và phát triển, khoảng thời gian không quá dai so với thị trường chứng khoán của các quốc gia 3 phát triển nhưng cũng đủ dé định hình vai trò của mình trong nền kinh tế nước nhà. Trong bối cảnh những năm gan đây đại dịch Covid-19 gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng, Ngân hàng Nhà nước đã có động thái bơm tiền ra nền kinh tế với mục tiêu hạ lãi suất, hỗ trợ sản xuất kinh doanh (mới đây nhất là gói vay ưu đãi 2% trị giá 40.000 tỷ từ nguồn ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh). Tuy nhiên vì nhiều rào cản về mặt quy định pháp lý cũng như các chính sách phong tỏa, gián đoạn chuỗi cung ứng khiến dòng tiền có xu hướng chảy vào thị trường chứng khoán với tỷ lệ lớn, chỉ số VN- Index liên tục vượt đỉnh chưa từng có (ngày 22/03/2022 Vn-Index đã vượt mốc 1500 điểm lần đầu tiên ké từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời).
Trong đó phải kế đến sự tăng trưởng mạnh mẽ của cổ phiếu nhóm các ngân hàng thương mại. Sang đến năm 2022, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát một phần trên toàn thế giới, các ngân hàng trung ương trước áp lực lạm phát đã có động thái tăng lãi suất (tháng 07/2022 Fed tăng lãi suất mạnh nhất ké từ đầu thập niên 1980, lên khoảng 2,25-2,5%), do đó tác động mạnh đến thị trường chứng khoán. Chính vì thế về mặt học thuật, nghiên cứu các nhân tố tác động đến cô phiếu nhóm các ngân hàng là quan trọng vì kết quả nghiên cứu sẽ lý giải mối liên hệ giữa các nhân tố vĩ mô của nền kinh tế và các yếu tố nội tại của bản thân ngân hàng với giá cổ phiếu và giải thích nguyên nhân tăng trưởng của cô phiếu nhóm ngành ngân hàng. Đồng thời về mặt thực tiễn, ở thời điểm hiện tại, mặc dù đại dịch đã được kiểm soát trên phạm vi cả nước, tuy nhiên tình hình kinh tế trên thế giới vẫn còn nhiều diễn biến không chắc chan như dich bệnh Trung Quốc có ảnh hưởng lớn đến chuỗi cung ứng, lạm phát cao trên toàn cầu hay tỷ giá biến động mạnh ở thời điểm hiện tại.
Việc lựa chọn đầu tư vào sản xuất kinh doanh là có rủi ro nhất định, nghiên cứu này được thực hiện sẽ góp phần đem đến các cơ hội đầu tư trên thị trường chứng khoán. Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề trên, đề tài “Các nhân tố tác động đến giá cô phiêu nhóm ngân hàng thương mại ở Việt Nam” được lựa chọn dé tiền hành nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện với các với mục đích, thứ nhất nhăm tìm ra nguyên nhân giải thích cho sự biến động của giá cô phiêu nhóm ngân hàng thương mai, chúng phụ thuộc vào những nhân tô nào, hơn nữa là mức độ, chiều hướng tác động của từng nhân tố. Thứ hai, dem đến cho các nhà dau tư cái nhìn tổng quan về thị trường chứng khoán và giúp các nha đầu tư có có quyết định hợp lý hơn khi lựa chọn đầu tư vào cô phiếu nhóm ngành 4 ngân hàng.
Thứ ba, nghiên cứu kỳ vọng sẽ giải thích được một phần phản ứng của cô phiếu nhóm ngân hàng thương mại trước cú sốc dịch bệnh. Câu hỏi nghiên cứu Đề thực hiện các mục tiêu ở trên, nghiên cứu trả lời các câu hỏi sau: - Những nhân tố nào tác động đến giá cô phiếu ngân hàng thương mai? - Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến giá cổ phiếu, các nhân tố vĩ mô của nền kinh tế hay yếu tố nội tại của ban thân ngân hàng có tác động lớn hơn? - Cú sốc dịch bệnh có tác động như thế nào đến giá cô phiếu ngân hàng thương mại? 1. Đối tượng nghiên cứu Giá cô phiếu của 8 ngân hàng thương mại bao gồm: ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB-niêm yết năm 2009), ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (CTG- niêm yết năm 2009), ngân hàng TMCP Quân Đội (MBB-niém yết năm 2011), ngân hàng TMCP Á Châu (ACB-niêm yết năm 2006), ngân hàng TMCP Sài Gòn (SHB-niêm yết năm 2009), ngân hàng TMCP Quốc Dân (NVB-niêm yết năm 2010), ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (STB-niém yết năm 2006), ngân hàng TMCP Xuất nhập khâu Việt Nam (EIB- niêm yết năm 2009). Các nhân tố vĩ mô có khả năng ảnh hưởng đến giá cô phiếu ngân hàng: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, lãi suất cho vay, tỷ giá hối đoái và tốc độ tăng cung tiền.
Các nhân tố tài chính của ngân hàng: quy mô tổng tài sản, hệ số giá trên thu nhập một cô phiếu, giá trị số sách trên một cô phiếu. Phạm vỉ nghiên cứu Phạm vi thời gian: giai đoạn từ 01/01/2012 đến 31/03/2022, dữ liệu được chọn với tần suất theo quý. Phạm vi không gian: nghiên cứu bao gồm 328 quan sát với đữ liệu của 8 ngân hàng thương mại ở Việt Nam được niêm yết sớm nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam như trên. Thị trường chứng khoán và giá cỗ phiếu 2.
Thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán được định nghĩa đơn giản là nơi phát hành và mua bán chứng khoán. Việc trao đôi mua bán này được tiến hành theo những quy định và chế tài cụ thể (Nguyễn Thị Minh Huệ & Lê Thị Hương Lan, Giáo trình Thị trường chứng khoán 2019, Nhà Xuất Bản Đại Học Kinh Tế Quốc Dân). Đây có thể coi là thị trường vốn quan trọng đối với các doanh nghiệp niêm yết trong việc huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. C6 phiếu và giá cỗ phiếu Khái niệm cổ phiếu Cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi số, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cô phan.
Cô phiếu là công cụ tài chính có thời hạn thanh toán là vô hạn. Người nắm giữ cô phiếu gọi là cổ đông và đồng thời là người sở hữu một phan công ty tùy thuộc vào lượng cổ phần nam giữ (Nguyễn Thi Minh Huệ & Lê Thị Hương Lan, Giáo trình Thị trường chứng khoán 2019, Nhà Xuất Bản Đại Học Kinh Tế Quốc Dân). Phân loại cô phiêu theo quyên lợi của người năm giữ Cô phiếu thường được coi là đại diện cho quyền sở hữu cổ phan trong công ty. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường được tham gia bầu thành lập Hội đồng quản trị, tham gia vào quá trình bỏ phiếu quyết định các van đề của công ty.
Cô tức của cô phiếu thường được chi trả sau khi kết quả kinh doanh của công ty được công bố và chính sách chi trả cổ tức cho cổ đông được thông qua. Khi công ty gặp các vấn đề buộc phải giải thể hoặc phá san, sau khi công ty đã thanh toán các khoản nợ phải trả và quyền lợi cho chủ sở hữu cô phiếu ưu đãi, chủ sở hữu cé phiếu thường sẽ được chia số tiền còn lại. Cé phiếu ưu đãi được định nghĩa là chứng khoán bao gồm đặc tính của trái phiếu cùng với cô phiếu phô thông. Tuy nhiên, cô phiếu ưu đãi không phải là nợ nên loại cô phiếu này vẫn có phan rủi ro hon trái phiếu.
Cé tức được chia cho cô phiếu ưu đãi thường là một 6 tỷ lệ phần trăm thu nhập có định trên giá của cô phiếu bat kề kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy nên giống như trái phiếu, các biến động lãi suất có ảnh hưởng mạnh tới cô phiếu ưu đãi. Lãi suất giảm khiến giá cô phiếu phiếu ưu đãi và ngược lai. Cổ phiếu ưu đãi thường được ưu tiên trả cô tức trước các loại chứng khoán khác.
Trong các doanh nghiệp, cổ đông sở hữu cô phiếu ưu đãi thường không được tham gia bỏ phiếu thành lập Hội đồng quan tri (Nguyén Thi Minh Huệ & Lê Thị Huong Lan, Giáo trình Thi trường chứng khoán 2019, Nhà Xuất Bản Đại Học Kinh Tế Quốc Dân). Khái niệm giá cô phiêu Mệnh giá cô phiếu là giá trị danh nghĩa mà doanh nghiệp đại chúng ấn định cho một cô phiếu.